Blog của Hoàng Đình Quang

  • HĐQ

  • buy tramadol counter dot com
    Lượt khách thăm
  •  

    Tháng Năm 2012
    T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
    « Tháng 7    
     123456
    78910111213
    14151617181920
    21222324252627
    28293031  
  • Lưu trữ

  • RSS Những bài gần đây

    • PHAN THIẾT TRONG MỘT NHÀ THƠ 11.07.2011
      PHAN THIẾT TRONG MỘT NHÀ THƠ HÀ THU THỦY Mười tám năm sau tập thơ đầu tiên, Hoàng Đình Quang mới in tập thứ hai. “Hát chẳng theo mùa” đến tay tôi khá muộn, qua một người bạn. Tập thơ không đẹp, chỉ một sắc màu nóng nhưng khi đã đọc bài đầu tiên thì tôi quên luôn cái đơn giản của [...] […]
      hoangdinhquang
    • BÀI THƠ “CHIÊM BAO” CỦA NHÀ VĂN HOÀNG ĐÌNH QUANG . 06.05.2011
      CHIÊM BAO Chiêm bao cơm nắm, muối vừng Bao nhiêu trầm tích để gừng đừng cay? Chim trời thả bóng vào mây Ngẩn ngơ thả nhớ vào ngày xa em. Áo lành sợi chỉ buông rèm Người đi phương ấy mà đem hương về Trốn vào sau giậu tái tê Tơ hồng giăng suốt bốn [...]
      hoangdinhquang
    • Ngày Valentine và Hoa hồng 01.03.2011
      Anh mua một cành hoa hồng Cành hoa hồng đầu tiên Từ khi anh biết có ngày Valentine! Tặng em! Đặt lên bia mộ. Khi tay trao tay anh vô tình không tin vào Những – bông – hoa – phù – phiếm. Giờ không còn nắm được tay nhau Hoa tặng em phải nhờ [...]
      hoangdinhquang
    • Chiều tháng Chạp 01.03.2011
      CHIỀU THÁNG CHẠP Chiều tháng Chạp, em về muộn thế Người lấn chen người, anh biết chợ đông Em đã vắng lâu ngày không khéo lạc. Nhà mình đây, nhà mình đấy, nhớ không? Em tất tả, giọt mồ hôi mùa đông Tay xách tay đùm, tóc mai bết má Em cười nói, em phân [...]
      hoangdinhquang
    • Viên đá nhỏ 07.11.2010
      hoangdinhquang
    • MiKi – Truyện ngắn 10.08.2010
      hoangdinhquang
    • Những người lạc lõng – Truyện ngắn 11.07.2010
      NHỮNG NGƯỜI LẠC LÕNG Truyện ngắn Buổi chiều, cơ quan hơi vắng. Khách thưa! Phóng viên về nhà viết bài, hoặc nhóm họp nhau ngoài bãi sông, gầy độ nhậu. Nhóm kỹ thuật thì 7 – 8 giờ tối mới “mise en page”, phơi kẽm… Thu Trang xem lại kế hoạch trong tuần, định khép [...] […]
      hoangdinhquang
    • Trung tâm chấp bút THỜI ĐẠI 24.06.2010
      TRUNG TÂM CHẤP BÚT THỜI ĐẠI RA ĐỜI
      hoangdinhquang
    • CHỊ THIẾT NGƯNG 13.04.2010
      Nhà văn nữ Trung Quốc Thiết Ngưng sinh ăm 1957. 49 tuổi (năm 2006) chị được bầu làm Chủ tich Hội Nhà văn Trung Quốc. Thiết Ngưng là vị chủ tịch thứ 3 trong lịch sử nền văn học cộng sản TQ, mà tiền nhiệm là hai nhân vật cực kỳ to lớn: Mao Thuẫn [...]
      hoangdinhquang
    • HỢM… MÉP! 10.04.2010
      Tôi đọc trong blogs, thấy có bài chê trách và phản đối đám tang của một ông quan rùm beng. Bài ấy nhằm phê phán thói xấu của người có tiền, lúc chưa chết thì thoắt cái rút túi 2 triệu ra, khi chết thuê dàn kèn trống đắt tiền, um sùm. Lúc còn sống [...]
      hoangdinhquang

TIỂU THUYẾT

CHƯƠNG MỘT

Sáng sớm ngày 21 tháng 7 năm 1974.
Trong khi trời hãy còn lờ nhờ tối, sao thưa rải rác trên ngọn sấu, các ô cửa trong mọi căn nhà ở thủ đô Hà Nội còn đang thiêm thiếp trong giấc ngủ mùa hè, đây đó tiếng ve gọi hè sà sã, thì từ trong thành Hà Nội, một chiếc xe con kiểu com-măng-ca đít tròn, lao ra từ phía cổng Cột Cờ. Chiếc xe bật đèn xin đường, rẽ theo đường Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng, lên dốc Hàng Đậu, rồi vượt qua cầu Long Biên, sang thị trấn Gia Lâm. Từ đây, nó rẽ về phía đường số Năm, bon thẳng đi Hải Phòng.
Đường số Năm, con đường huyết mạch nối thủ đô Hà Nội với thành phố Cảng Hải Phòng, còn nhập nhờ trong bóng tối. Mặt đường lổn nhổn đá cuội khiến chiếc xe nhà binh thỉnh thoảng lại nẩy lên, rê ngang, chúi dọc, cũng có lúc nó phải tránh những ổ gà làm cho cả chiếc xe như một con bọ rùa nánh sang một bên, khiến những người ngồi trong xe cũng ngả nghiêng theo. Qua khỏi phố Nối, mặt trời mùa hè bắt đầu nhô lên dưới rặng phi lao non tơ, ửng lên một màu đỏ lựng, những tia nắng xuyên qua tầng tầng lớp lớp những đám mây xiên ngang, mang hình thù kỳ dị. Hai bên đường, cánh đồng trắng nước lấp lóa, sục bùn non, xen với những thảm mạ xanh thẫm. Sắp bước vào vụ mùa cấy hái. Tiếng giục trâu đi trên đồng và tiếng nước lội bì bõm trong nắng sớm làm nên một thứ âm thanh vừa rộn rã, vừa thong thả, thanh bình. Đằng xa, từ trong xóm nhỏ Lai Vu, Nam Sách… những tốp phụ nữ áo xanh phòng không màu cỏ úa (hết đánh phá rồi mà họ vẫn chưa có thể thay áo mới), hay màu nâu sồng ngàn năm của phù sa châu thổ, nón trắng, quần xắn ngang đầu gối tong tả cười nói bước vào ruộng cấy.

Thanh bình quá! Thanh bình nhưng đâu đã có hòa bình! Bất chợt người ngồi trên chiếc xe buông một tiếng nói, nghe thảng thốt như chứa chất cả niềm vui xen lẫn nỗi lo âu, bồn chồn. Như thông cảm với nỗi niềm của vị tướng thủ trưởng phía sau xe, người sĩ quan từ ghế trên ngoái nhìn về phía sau:
-Chiến trường của anh …
-Không chỉ là chiến trường, quê hương mình nữa chứ…
Tất cả đều biết và đều nhớ trên con đường huyết mạch này, mới chỉ hơn một năm trước, bom đạn của Mỹ đã gieo rắc, vung vãi với ý đồ hủy diệt toàn bộ sự sống nơi đây. Hàng vạn tấn bom đủ các cỡ, các loại của Mỹ ném xuống, nhằm khuất phục con đường, khuất phục một dân tộc, hòng đẩy lùi họ trở về thời đồ đá. Thế nhưng sức sống vẫn âm ỉ, vẫn thản nhiên, vẫn kiên cường, vạm vỡ nảy sinh. Rồi hiệp định Paris ký kết, Mỹ phải ngừng ném bom và rút quân ra khỏi miền Nam. Con đường Năm mới chỉ ngưng tiếng bom chừng hai năm nay, vậy mà màu xanh đã trở lại, tiếng cười cũng trở về. Và hạt lúa, củ khoai lại tiếp tục nuôi sống con người như từ hàng ngàn năm nay vẫn vậy. Tại sao thế nhỉ? Tại sao bom đạn cứ mãi đổ xuống mảnh đất này, máu cứ chảy triền miên và con người đồng bằng cứ mãi mãi cơ cực. Hỏi thế để mà hỏi, để mà dồn nén ý chí, chứ họ đều biết rõ và thấu hiểu. Miếng cơm, manh áo đâu đã là tất cả. Phẩm giá, lòng tự hào của con người còn cao quý hơn gấp bội. Máu đổ vì sự sống không chỉ một người, một đời, mà còn vì niềm kiêu hãnh về sự trường tồn của cả một dân tộc.
Chiếc xe vẫn lứơt nhanh trên đường, thỉnh thoảng nó lại chồm lên vì những hố đạn, hố bom lấp rồi nhưng hãy còn chưa phẳng, chưa kỹ. Vết thương chưa kín miệng. Cầu Phú Lương mới làm lại bằng những thanh ván gỗ, gân guốc, quê mùa chịu đựng. Xe lướt qua cổng một cơ quan, hay nhà máy nào đó, không thấy ghi tên mình mà chỉ có một tấm bảng màu đỏ với hàng chữ vàng “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, nhuộm thắm tươi trong nắng sớm.
Hải Phòng đây rồi! Xe rẽ vào hướng đi xuống Đồ Sơn. Lúc này người đi đường đã đông hơn, nhộn nhịp hơn, anh chiến sĩ lái xe nhẹ nhàng lách tay lái trên con đường chật, tránh không muốn bóp còi, hình như anh cũng sợ lay động cái không khí thanh bình quý báu nơi đây. Rẽ vào một ngôi nhà vốn là một căn biệt thự cổ, chiếc xe dừng lại. Một chiến sĩ công an vũ trang, không thấy mang cấp hiệu, mà trên ve áo anh chỉ có hai miếng nỉ màu xanh, chạy ra. Ở phía vọng gác cũng có một chiến sĩ giống như thế nhưng nét mặt nghiêm trang, mắt nhìn thẳng, ngay bên má anh, sáng lên ánh thép ngời chói của lưỡi lê tuốt trần.
Xe mở cửa, trên xe buớc xuống, một người đàn ông khá to cao, nhưng nét mặt thanh thoát, nhất là trong bộ quân phục xuân hè, với chiếc áo blu-dông cắt khéo bó lấy cơ thể của một con nhà võ ưa hoạt động. Theo sau ông cũng là một sĩ quan, có nét mặt lặng lẽ hơn, vừa xách chiếc cặp da, vừa liếc nhìn xung quanh, rồi cùng vị thủ trưởng của mình bước vào ngôi nhà.
Phòng khách ngôi biệt thự bài trí đơn sơ, với bộ bàn ghế gỗ mộc, mà trên đó chỉ vỏn vẹn có một bộ đồ trà sứ Hải Dương, ánh lên màu sàng lấp lánh. Một người đàn ông bước vội ra, với cái nhìn kính nể và thiện cảm:
-Mời hai đồng chí ngồi. Anh Ba đang dở chút việc, sắp ra. Anh hỏi các đồng chí đã ăn sáng chưa, để chuẩn bị?
-Cám ơn đồng chí, chúng tôi đã tranh thủ ăn trên xe rồi. Người cao to trả lời, bằng một nụ cười giản dị.
Trên tường ngay chính diện của căn phòng treo một tấm chân dung Hồ Chủ tịch khổ lớn, màu xám được dệt trên nền vải, có khung viền trạm trổ rất tinh xảo. Chếch về một bên, về phía cửa ra vào trên bức tường vôi vàng ngả màu là một bức sơn mài cẩn xà cừ mô tả trận chiến thắng của Quang Trung – Nguyễn Huệ. Ngoài vườn đâu đó vẳng tiếng hót lảnh lót của một đôi chiền chiện. Và thoang thoảng mùi hương dịu của hoa huệ, thứ hương thơm kỳ ảo của loài huệ trắng, chỉ nở vào đêm thanh, khuya thẳm.
Hai người vừa bưng chén nước lên ngang môi thì chủ nhà xuất hiện. Với dáng đi hơi có vẻ tất bật cố hữu, và cái nhìn ấm áp trong bộ quần áo cũng giản dị quen thuộc: quần ka-ki, loại của bộ đội và áo sơ mi trắng ngắn tay, ông bước nhanh đến bên người khách, chìa bàn tay ra:
-Thái xuống rồi hả? Khỏe không? Chà, so với hôm gặp lúc mới ở chiến trường mới ra, cậu khá hơn nhiều đấy. Cơm gạo của bà con miền Bắc xã hội chủ nghĩa phải thế chứ…
Ông nói liền một mạch, làm cho vị khách chỉ còn biết cười và lắc lắc bàn tay theo. Người chủ nhà đó chính là ông Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, người lãnh đạo cao nhất, người chịu trách nhiệm nặng nề nhất cùng với bộ tham mưu của Đảng là Bộ chính trị, Ban chấp hành trung ương đề ra những quyết sách chiến lược cho giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, người mà hầu hết cán bộ cao cấp trong Đảng, các tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp trong quân đội đều gọi ông bằng cái tên Anh Ba, vừa kính trọng, vừa thân thiện. Còn người ông đang tiếp là trung tướng Hoàng Văn Thái, Phó Tổng tham mưu trưởng thứ nhất, Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam. Trung tướng ngồi xuống chiếc ghế gỗ có những thanh nan làm tựa lưng. Tuy đã cũ kỹ nhưng chiếc ghế chắc chắn và rất nặng. Sự giản dị, đơn sơ của văn phòng làm việc cơ động của Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng ta, làm ông thấy thoải mái. Nhìn mái tóc đã bạc nhiều, chải đường ngôi giữa, vừa nghiêm trang, lại có chút gì đó ngang tàng, dân dã của ông, trung tướng mỉm cười:
-Anh Ba ạ, mỗi lần được làm việc với Anh, nhìn Anh, tôi thấy hình như lúc nào Anh cũng ở chiến trường ấy…
Anh Ba cười vang, tiếng cười có cảm giác như làm rung rinh cả những cành lá phi lao đang rì rào ngoài cửa sổ:
-Chiến trường! Cả đất nước ta, cả non sông gấm vóc chúng ta đang là một chiến trường lớn. Giọng ông bỗng vụt trở nên xa xăm. Gần bảy mươi tuổi rồi, chưa một ngày được thanh bình, đau lắm, Thái ạ… Đất nước chưa một ngày im tiếng súng. Không tiến hành thành công cuộc cách mạng này là chúng ta có tội với tổ tiên, với bao anh hùng liệt sĩ, có tên và không tên… Có tội với Bác!
Tướng Hoàng Văn Thái ngồi nghe Anh Ba nói mà trong lòng bỗng dào lên nỗi niềm xúc động. Ông biết tính Anh Ba, khi đã nói ra một điều gì đó là ông đã suy nghĩ rất kỹ càng, thấu đáo. Và ông nói nhiều, nói tha thiết, tuôn trào, dù trước mặt ông chỉ có một người nghe.
-Bác đã đi xa cách chúng ta gần trọn năm năm. Năm năm vắng Bác, mình cảm thấy vô cùng trống trải. Mỗi lúc gặp phải những vấn đề hóc búa, chưa nghĩ ra được cách giải quyết thấu đáo, mình lại càng nhớ Bác. Khi còn Bác, những việc như thế, có khi nhỏ hơn, đơn giản hơn, dù nghĩ chưa ra hay đã có phương án xử lý mình đều chạy vào với Bác. Bác lớn lao lắm, phi thường lắm, mà cùng gần gũi, thân tình lắm…
-Vâng! Chính Bộ tổng tham mưu, quân đội cũng được Bác ân cần chỉ bảo. Từ ngày vắng Bác, anh em chúng tôi cũng cảm thấy thiếu hụt. Nhưng, chúng ta còn Bộ chính trị, còn Trung ương, còn có Anh Ba…
Bỗng Anh Ba phác một vòng tay:
-Thôi nhỉ, chuyện này ta nói sau. Phải cố gắng bằng hết sức mình, để hoàn thành sự nghiệp của dân tộc. Mà này, Lê Trọng Tấn đâu chưa thấy xuống? Tấn còn ở ngoài này hay lại vào trong ấy rồi. Các ông tướng của ta là mê chiến trường quá lắm rồi đấy. Hồi mới ký hiệp định, Anh Văn (Võ Nguyên Giáp) thấy trong Cửa Việt, cứ cù cưa mãi, địch thì ngoan cố nống ra, còn ta thì lại có vẻ muốn, nhân nhượng, thụ động, hỏi tôi, tôi bảo cử Lê Trọng Tấn vào xem. Nếu thấy cần thì làm sạch chúng nó đi. Nó có muốn thi hành hiệp định đâu mà nhân nhượng. Lê Trọng Tấn vào diệt gọn lữ đoàn lính dù của Thiệu, y kêu toáng lên, nhưng Cửa Việt là của ta, từ năm 1972 kia mà? Tấn khá lắm. Cách mạng là tiến công, tiến công không ngừng! Hả?
-Dạ, báo cáo Anh, anh Tấn xuống sau tôi khoảng một giờ. Chúng tôi chia nhau ra đi hai xe, vào hai giờ khác nhau. Lúc này chúng tôi nghĩ ta phải cẩn trọng. Mọi động thái của cán bộ cao cấp, tướng lĩnh đều có thể có con mắt của địch theo dõi…
-Đúng đấy. Mình cũng đã nhắc các ông như vậy.
Bí thư thứ nhất nhìn đồng hồ tay. Bỗng có tiếng xe, và tiếng hô chào phía ngoài cổng ngôi biệt thự. Hoàng Văn Thái đứng dậy đón Lê Trọng Tấn, người cán bộ đồng cấp từ trên xe bước ra. Là người cao to, có tướng của một vị thống soái, Lê Trọng Tấn bước vào:
-Chào Anh Ba, đồng chí Bí thư thứ nhất của Đảng, người Anh lớn của quân đội nhân dân Việt Nam.
Anh Ba Lê Duẩn đứng dậy, đi men theo cạnh bàn gỗ, bắt tay trung tướng Lê Trọng Tấn:
-Mình với Thái đang đợi Tấn. Ăn sáng chưa? Bảo anh em chuẩn bị để các ông cùng ăn nhé?
-Báo cáo Anh Ba, anh em tôi đã tranh thủ làm một phong lương khô trên đường Năm rồi ạ…
Bí thư thứ nhất Lê Duẩn lắc đầu:
-Ăn uống tốt, bảo đảm sức khỏe cho các cậu cũng là trách nhiệm của Đảng. Này, còn lương khô không, các ông cho mình ăn với…
-Anh Ba, Hoàng Văn Thái cười, chúng tôi còn trẻ, ăn uống thế nào cũng xong, Anh Ba làm sao mà ăn uống đơn giản như cánh bộ đội được!
Không đáp lại lời của trung tướng, Anh Ba quay sang chỉ vào thượng tá Võ Quang Hồ, sĩ quan Cục tác chiến đi cùng Hoàng Văn Thái:
-Nhớ lấy cho mình một phong lương khô, đồng chí…
Cả ba anh em, ba người đồng chí, một phần tinh nhuệ nhất của Bộ chỉ huy cuộc chiến đấu, cùng nhìn nhau cười vang, khiến cho bầy chim sẻ đang lích rích làm tổ trên mái ngói cũng ngơ ngác, nhìn vào…

***
Dường như đã trình bày hết mọi suy nghĩ tâm tư, không chỉ của người lãnh đạo cao nhất của Đảng, của đất nước mà Anh Ba còn thổ lộ hết mọi ngõ ngách gan ruột tình cảm của mình trước hiện thực cách mạng và hiện tình đất nước, với những người đồng chí tin cậy. Anh Ba lại châm một điếu thuốc, rít thật sâu… Nhìn hai vị tướng tham mưu cũng đang bần thần xúc động trước những điều vừa nghe được từ quyết tâm của Bộ chính trị, của người Bí thư thứ nhất, hình như trong đầu hai ông đã hình thành nên một ý đồ, kế hoạch cụ thể nào đó, Anh Ba dí cái đầu mẩu thuốc xuống gạt tàn:
-Bây giờ cũng đã muộn, sắp tới cơm trưa, hai anh ăn cơm với mình nhé. Suy nghĩ tiếp đi, chiều ta sẽ bàn cụ thể hơn…
Buổi chiều, khi cái nắng hè oi ả vẫn còn gay gắt nhưng gió đã đổi hướng, thổi từ phía biển mang theo hơi nước mát dịu và cả cái vị nồng nàn của biển vào ngôi biệt thự lịch sử.
-Sáng nay tôi đã nói nhiều về tình hình chung, những nét lớn. Bây giờ tôi muốn nghe về tình hình quân đội ta. Trước hết trang bị, vũ khí, khí tài thế nào?
Tướng Hoàng Văn Thái lật trong cuốn sổ tay bìa bọc nhựa ra để ngay ngắn trước mặt. Cây bút máy Hồng Hà từ từ lia theo từng hàng. Ông bắt đầu báo cáo với Bí thư thứ nhất những vấn đề tổ chức, kỷ luật, trình đô tác chiến của bộ đội từng chiến trường. Anh Ba gật đầu liên tục, tỏ ra hài lòng, nhất là khi trung tướng báo các về tư tưởng, tinh thần chiến đấu và trình độ tác chiến của các đơn vị.
-Việc xây dựng lực lượng vũ trang trên cả hai miền đã đạt kết quả quan trọng, nhất là việc kiện toàn khối dự bị chiến lược. Tiếp theo việc thành lập Quân đoàn Một vào tháng mười năm 1973, Quân đoàn Hai ra đời vào tháng Năm năm 1974, và báo cáo Anh, hôm qua, ngày 20 tháng 7 năm 1974, ở miền Đông Nam bộ, quân đoàn Bốn vừa được thành lập…
-Tốt! Quân đoàn Bốn do ai chỉ huy?
-Báo cáo anh, Bộ Tổng tư lệnh cử Hoàng Cầm làm tư lệnh ạ…
Anh Ba gật đầu:
-Tôi nhớ rồi. Hoàng Cầm trung đoàn trưởng trung đòan 209 của đại đoàn 312, bắt sống tướng De Castrie ở Điện Biên năm xưa phải không?
-Dạ đúng!
-Tướng chưa? Đợt phong quân hàm vừa rồi Hoàng Cầm lên cấp tướng chưa anh Tấn?
-Dạ, Hoàng Cầm được phong quân hàm thiếu tướng ạ! Tôi với Hoàng Cầm ở 312 nhiều năm. Vào miền Đông, tôi với Hoàng Cầm, Trần Độ, một bộ chỉ huy 312 lại được dịp tác chiến bên nhau. Giao Quân đoàn Bốn cho Hoàng Cầm, Bộ Tổng tư lệnh, chỗ anh Văn cùng rất yên tâm, vì đây là quân đoàn đầu tiên ở chiến trường xa.
Anh Ba, người chỉ huy tối cao của Đảng cười nhẹ nhàng, Anh ngả người trên ghế, mái tóc Anh hất ngược ra phía sau, những sợi bạc hiền lành, nhân hậu.
Tướng Lê Trọng Tấn, nháy mắt với Hoàng Văn Thái:
-Ta báo cáo Anh Ba thêm vấn đề gai góc mà vẫn chưa có cách giải quyết toàn diện nhé…
Anh Ba nghiêm khắc:
-Nói hết ra đi!
-Báo cáo Anh, đó là vấn đề đạn lớn. Ta có những binh đoàn mạnh, trang vị vũ khí, khí tài mạnh, để có thể vừa phối hợp tác chiến với các quân binh chủng, đồng thời vẫn có thể hành tiến, nếu cần độc lập tác chiến trên quy mô lớn. Khi đánh hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, đánh vào thành phố, trung tâm đầu não, sào huyệt của địch, phải có xe tăng, đại pháo mới áp đảo được chúng. Nhưng… vấn đề đạn lớn cho đại bác, xe tăng vẫn còn thiếu nhiều. Hiện thời ta chỉ còn chừng 10 vạn viên, như vậy là quá ít…
-Trước mắt có cách nào khắc phục chưa?
-Dạ, đang cho thu hồi vỏ đạn để cải tiến, nhồi thuốc vào, để có thể khắc phục được phần nào trong phạm vi có thể. Đề nghị Trung ương đặt vấn đề tranh thủ sự viện trợ của các nước anh em…
Anh Ba trầm hẳn xuống:
-Cứ nghiên cứu nhồi đạn, cải tiến và bàn thêm cách khắc phục thế nào cho tốt. Tình hình viện trợ là khó khăn, ta chỉ có thể xin rải ra các nước anh em, chứ lúc này viện trợ không được như ta mong muốn đâu. Tuy thế, vào thời điểm này chiến trường cần những gì, hậu phương lớn, miền Bắc phải lo đủ, bằng mọi cách. Xin nhắc lại với các đồng chí: hậu phương lớn, miền Bắc xã hội chủ nghĩa là nhân tố quyết định cho cách mạng miền Nam, thống nhất đất nước! Ngừng lại như để suy nghĩ tiếp, đôi mắt sáng kiên định của Anh Ba nhìn ra ngoài nắng. Xa xa đâu đó có tiếng gà gáy eo óc. Gió biển thỉnh thoảng đổ từng cơn rít trên mái ngói u u. Ông chợt quay sang Lê Trọng Tấn. Bây giờ là kế hoạch nhân lực. Bộ chính trị và tôi đã đi đến quyết định: từ bây giờ cho đến cuối năm nay, chúng ta phải tuyển cho được ba mươi vạn tân binh. Các đồng chí nghe rõ chứ, ba mươi vạn thanh niên miền Bắc, con số không nhỏ. Và phải huấn luyện cho thật chu đáo, để vào chiến trường có thể tham gia chiến đấu được ngay, và chiến đấu với tinh thần anh dũng, mưu trí, sáng tạo, quả cảm và có kỹ thuật, có ý thức chiến thuật vững vàng…
Lê Trọng Tấn đưa mắt sang Hoàng Văn Thái. Trung tướng khẽ bặm môi, rồi ngẩng lên nhìn thẳng vào đôi mắt đang chờ đợi trả lời của đồng chí Bí thư thứ nhất của Đảng:
-Báo cáo Anh Ba… Tình hình tuyển quân nhìn chung không có gì khó khăn lớn. Tinh thần xả thân vì nước của đồng bào ta nói chung và thanh niên nói riêng rất cao. Chưa bao giờ lòng yêu nước của thế hệ trẻ Việt Nam lại được thử thách như lúc này. Ở nhiều địa phương, cơ quan trường học, công nông trường, hợp tác xã nông nghiệp mọi thanh niên đều sẵn sàng lên đường nhập ngũ vào Nam chiến đấu. Nhiều thanh niên chỉ chờ đủ tuổi là làm đơn xung phong nhập ngũ. Có cả những thiếu niên chưa đến tuổi đã khai tăng lên để được vào bộ đội. Có thanh niên chưa đủ cân nặng thì lén đeo chì vào người cho đủ cân. Có em trốn gia đình xin huyện đội, tỉnh đội được nhận vào đơn vị…
-Tốt lắm. Trung ương Đoàn cũng có báo cáo với tôi như vậy. Thái tiếp đi!
-Nhưng… Trung tướng hơi ngần ngừ, ông cảm thấy cái nhìn lo âu trong đôi mắt người lãnh đạo cao nhất của Đảng. Tướng Thái tiếp:
-Từ khi ta có chủ trương đưa bộ đội vào miền Nam, thời kỳ đầu chủ yếu là những đồng chí quê ở miền Nam tập kết, tình nguyện trở về cùng đồng chí ở lại và đồng bào xây dựng phong trào đấu tranh chính trị, kết hợp võ trang. Nhưng từ năm 1965, khi quân Mỹ ồ ạt kéo vào miền Nam, ta có chủ trương đưa những đơn vị chiến đấu cấp sư đoàn vào chiến trường, và dần dần xây dựng những đơn vị chủ lực mạnh, những binh đoàn chủ công. Cho đến nay đã có hơn một triệu rưởi thanh niên miền Bắc vào Nam chiến đấu. Chỉ tính đến đầu năm 1973, khi hiệp định Paris được ký, cuộc kháng chiến đã kéo dài tám năm, bằng cuộc kháng chiến chống Pháp, nhưng về quy mô, lực lượng thì gấp nhiều lần. Một triệu rưởi cán bộ, chiến sĩ đã có mặt trên các chiến trường, điều đó chứng tỏ sự huy động nhân lực đã bước đến ngưỡng tối đa. Có năm động viên cao nhất đã chiếm tới 1,6 phần trăm dân số miền Bắc. Phần lớn các chiến sĩ mới tuyển là con em đồng bào vùng xuôi, chiếm tỷ lệ 7,5 phần trăm dân số đồng bằng. Cao nhất là Thái Bình, chiếm trên 8 phần trăm số dân…
Với thói quen suy nghĩ, hành động quyết đoán, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn tiếp lời tướng Hoàng Văn Thái:
-Làm sao một mặt vẫn phải tiếp tục duy trì quân số ở mức cần thiết, và, đặc biệt kế hoạch tác chiến mùa khô 1975 – 1976 này phải huy động quân số cao hơn, cao nhất, đồng thời vẫn phải bảo đảm sức lao động để miền Bắc hàn gắn vết thương, phục hồi sản xuất, phát triển kinh tế làm chỗ dựa cho miền Nam, tăng cường tiềm lực chi viện cho tiền tuyến… Cố gắng hạn chế huy động trong khối công nhân, viên chức, cán bộ khoa học kỹ thuật và giáo viên. Đặc biệt là giáo viên… Đã huy động đến các thầy giáo chưa?
-Báo cáo anh, Cục dân quân báo cáo là đã tuyển quân đến sinh viên học sinh các trường đại học và chuyên nghiệp…
-Cả trường sư phạm?
-Vâng, báo cáo Anh Ba, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp sư phạm vốn có tỷ lệ nam giới thấp, thì cũng đã gọi đến 30 phần trăm số nam sinh viên.
Bí thư Lê Duẩn, đưa bàn tay bóp trán một lát rồi ngẩng lên:
-Dù sao cũng phải tuyển cho được ba mươi vạn tân binh cho mùa chiến dịch này. Ta còn lực lượng nào chưa gọi nhập ngũ nữa không, các đồng chí?
Trung tướng Lê Trọng Tấn, nãy giờ ngồi suy tư, mỗt lần tướng Thái gạch một nét ngang đậm vào sổ tay, dưới những hàng con số, khiến ông nhíu mày, lo lắng. Sau câu hỏi như một lời thách thức của Bí thư thứ nhất, tướng Tấn nói chậm rãi:
-Hiện chúng ta còn một số trường thiếu sinh quân, trong đó có hai trường lớn: Nguyễn Văn Trỗi và Nguyễn Văn Bé…
-Ở bên Trung Quốc phải không? Nhưng tôi được báo cáo là hai trường này đã về nước từ hồi Nich-xơn thăm Bắc Kinh rồi kia mà?
-Vâng! Các cháu đã về, nhưng vẫn tiếp tục học tập tập trung. Đây hầu hết là con em cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và quân đội. Đặc biệt khi tôi đến thăm, các cháu rất muốn tham gia quân đội, được vào miền Nam đánh giặc. Các cháu có tinh thần đoàn kết, ý thức kỷ luật tốt. Nếu cần, chúng ta phải đưa những em đến tuổi vào rèn luyện và chiến đấu trong quân ngũ… Các cháu sẽ có điều kiện trưởng thành…
Tướng Thái nhìn Lê Trọng Tấn, rồi lại nhìn Anh Ba Lê Duẩn với cái nhìn dò hỏi. Căn phòng như giãn ra, không khí đậm đặc lại. Xa xa có tiếng sấm rền mùa hạ…
Bí thư thứ nhất nhìn hai vị tướng của mình:
-Cần! Cần lắm các đồng chí ạ! Ta phải huy động các cháu thôi. Tôi biết trong số các cháu hầu hết là con em của các đồng chí cán bộ Đảng, Chính phủ và quân đội được đưa sang Trung Quốc để chúng được bình yên học tập, rèn luyện. Trong đó có cả con của các đồng chí đang ở chiến trường ác liệt. Chúng ta phải trông nom các cháu để các đồng chí ta an tâm làm nhiệm vụ. Nhưng với tình thế này, thời cơ đã đến, không tập trung toàn lực để hoàn thành nhiệm vụ thì còn lúc nào nữa? Các đồng chí sẽ thông cảm. Với lại, nếu không để các cháu tham gia vào trận quyết chiến chiến lược này, mai sau nó có thể trách cha ông chúng đấy…
Một tiếng cười của Bí thư thứ nhất như đẩy ra một nỗi ân hận khi ông phải quyết định cả những vấn đề tuy nhỏ, nhưng đậm tình đồng bào đồng chí. Anh Ba tiếp:
-Nhưng, tôi lại nhớ lời Bác dặn: riêng con em của Vĩnh Linh, tuyến đầu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, túi bom của Mỹ, Đảng và Bác đưa các cháu ra khu IV từ hồi đầu chiến tranh phá hoại, phải tạo điều kiện để các cháu chuyên tâm học tập. Có tuyển quân thì cũng chưa nên tuyển đến các cháu này. Bác dặn chúng tôi thế… Chấp hành lời Bác, có thể đưa các cháu ra nước ngoài để chúng an toàn, an tâm học tập.
Cuộc họp kết thúc, Bí thư thứ nhất kết luận, với một giọng nói rắn chắc, kiên quyết nhưng lại hết sức chân tình:
-Các đồng chí về lo càng nhanh càng tốt cho kế hoạch chiến lược năm nay. Thời gian không có nhiều, chậm một ngày là thêm máu chảy… Giành được thắng lợi quyết định trong vài ba năm tới là giỏi, giỏi lắm!
Hai vị tướng cùng những sĩ quan tùy tùng bắt tay từ biệt vị lãnh đạo tối cao của Đảng, lần lượt ra xe. Bỗng đồng chí Lê Duẩn đi nhanh bằng những bước ngắn đến bên Phó Tổng tham mưu trưởng:
-Thái này, hồi đầu năm, tôi đề nghị anh Thọ giữ cậu ở lại Hà Nội, buồn không?
-Báo cáo Anh Ba, cũng buồn lắm, nhớ anh em, đồng chí trong đó, nhưng Đảng dã quyết chắc phải có lý do, chứ sức khỏe tôi bảo đảm…
-Đúng, có lý do. Nhưng không phải sức khỏe cậu tốt đâu. Ở B2 cậu chả phải chống gậy lò dò từng bước là gì? Đừng nói, mình biết lắm, không một vị chỉ huy nào muốn rời chiến trường lúc này. Nhưng Bộ chính trị và Quân ủy trung ương rất cần ở bên cạnh một Bộ tổng tham mưu có một đồng chí vừa có kinh nghiệm chỉ huy chiến lược ở tổng hành dinh, lại vừa có thực tế chiến trường. Hoàng Văn Thái là thích hợp hơn cả. Đúng chứ? Anh Văn Tiến Dũng đang ốm nặng, phải đi chữa trị. Ông Văn Tiến Dũng đề nghị khi nào khỏi bệnh, ông ấy xin vào Nam đấy! Anh Văn có xin ý kiến mình, mình bảo thì cứ để ông Dũng chữa khỏi bệnh đã!
-Để anh Dũng ngoài này thích hợp hơn! Cần phải có một người nắm rõ tình hình và có cái nhìn bao quát…
-Cứ để tình hình phát triển! Đến lúc chúng ta tung Đại tướng vào chiến trường, thì cha con Mỹ ngụy hết nước chạy!
Anh Ba cười to, tiếng cười ấm áp. Chợt anh chùng xuống:
-Nhớ chiến trường, nhớ miền Nam lắm chứ. Bây giờ mà có điều kiện, mình cũng muốn vào một chuyến. Mình ra Bắc đã hơn chục năm, mà đêm nằm vẫn nhớ từng khuôn mặt, từng mái nhà, dòng kênh, gốc dừa Nam bộ…
Hai người chậm rãi đi về phía chiếc xe đang chờ, tiếng ông Lê Duẩn:
-Tấn đi trước hả? Thôi Thái về được rồi! Cho mình thăm anh em trong cơ quan. Bộ Tổng tham mưu kỳ này vất vả đấy…
Hai người xiết chặt tay nhau.
Bí thư thứ nhất của Đảng đứng nhìn theo chiếc com-măng-ca khuất dần sau cánh cổng biệt thự…

CHƯƠNG HAI

Tháng Tám ở núi rừng Hà Bắc đã bắt đầu bước vào mùa mưa đậm. Trong cánh rừng tu bổ, sạch sẽ tinh tươm của lâm nghiệp, chỉ mới qua vài trận mưa đầu mùa mà nước chảy xói thành những giải khe nhỏ, trơ ra những nhánh rễ cây ngoằn ngoèo bò xuống bờ con suối Chân Gà. Suối Chân Gà! Cái tên thật buồn cười, nhưng hình như cũng đúng với tạng của nó: con suối bắt nguồn từ đâu không ai biết, nhưng khi đổ về đây, tại một cái vực nhỏ, nó bỗng xòe ra ba nhánh hình cái chân của một con gà. Chỗ này, ban giám hiệu nhà trường quyết định chia một nhánh làm nguồn riêng của nhà bếp, còn lại mỗi nhánh một lán: một giành cho con trai, nhánh kia giành cho đám học trò con gái. Thế là tha hồ vùng vẫy, tắm giặt.
Vừa từ dưới suối lên, vuốt mái tóc mượt để hơi dài xoáy theo kiểu tài tử Đianôp, gạt những giọt nước chảy xuống vai, xuống ngực, buồn buồn, nhồn nhột, chợt Thạch giật mình bởi tiếng con gái:
-Anh Thạch! Anh…
-A, Nhiên… Làm gì ở đây thế?
Nhiên ra khỏi chỗ nấp, tay cầm một nhành hoa mua tím sẫm:
-Em đợi anh!
Thạch bỗng thấy ngượng, anh vội xỏ tay áo sơ mi, khoác lên người, quay mặt đi, định tìm một câu nói chống chế, nhưng chẳng nghĩ ra câu nào, thì Nhiên đã lên tiếng:
-Chiều nay tỉnh đội vào khám sức khỏe, anh có danh sách đi khám không?
-Có chứ! Thạch đã lấy lại được sự tự nhiên, pha lẫn cái vẻ hài hước thường ngày. Anh mà không đi khám thì còn ai đi khám sức khỏe nữa? Nhiên đi đâu về phải không?
Không trả lời câu hỏi của Thạch, Nhiên vẫn đeo đuổi ý nghĩ của mình:
-Anh được loại mấy?
-Chưa biết, nhưng dứt khoát anh phải được loại nhất chứ…
Nhiên không nói nữa, cô rảo bước đi trước Thạch, hai bím tóc theo kiểu thiếu nữ Trung Hoa mà hầu như các cô học sinh nào của trường Trỗi đều cố công bày cho nhau cách tết sao cho cho thật đong đưa, ngúng nguẩy. Tóc Nhiên dài và óng, lại được tết khéo léo làm làm hai lọn cân đối, dưới đuôi tóc được buộc bằng hai sợi vải màu đỏ, đung đưa như hai cánh hoa phượng. Được vài bước, Nhiên quay lại:
-Em vừa ở trên nhà đại đội về, chú Dũng “xê trưởng” bảo có khi đợt này C ta nhập ngũ khoảng hơn chục người…
Thạch cúi xuống bẻ một cành sim xòa ra ngáng lối đi:
-Đi thì đi chứ sao? Anh chẳng muốn học nữa! Đang chán đây…
-Anh học giỏi bỏ sừ, sao lại chán?
-Không biết, chán thì chán thôi, không biết tại sao. Bây giờ mà được nhập ngũ thì thích nhỉ? Nhiên này, anh làm đơn rồi đấy…
Tưởng Nhiên sẽ ngạc nghiên, nào ngờ cô trả lời gọn lỏn:
-Em biết thừa đi rồi! Anh, anh Trí với anh Nghiệp rủ nhau cùng viết đơn nhập ngũ chứ gì?
Đến lượt Thạch ngạc nhiên, bởi lá đơn tình nguyện nhập ngũ, anh chỉ nộp cho chú Dũng, ngoài ra không hề nói với ai. Hóa ra hai tên bạn thân kia cũng âm thầm viết đơn mà không hé ra với mình. Thạch làm bộ trừng mắt hỏi Nhiên:
-Ai bảo Nhiên thế?
-Này, anh đừng coi thường nhé. Phó bí thư chi đoàn mà không biết thì còn ai biết vào đây? Nhưng em nói cho mà biết, cứ liều liệu đấy…
-Sao lại liệu? Bọn anh có làm gì không đúng đâu? Thạch đi nhanh vài bước đứng chắn ngang trước Nhiên.
Nhiên cười ngoảnh mặt đi, giọng dài ra, cố làm bộ ngoa ngoắt:
-Lúc đó hãy hay.
-Nói đi mà! Biết gái trường Trỗi rồi.
Nhiên phá lên cười:
-Đồng chí Thạch, đồng chí là đoàn viên Đoàn thanh niên Lao động Hồ Chí Minh, đồng chí có nghĩa vụ thực hiện nghị quyết của chi đoàn. Nhiệm vụ trọng tâm của chúng ta là học tập thật tốt, không được mang tư tưởng lười nhác trong học tập, lao động, hay nghĩ ngợi lung tung…
Thạch hiểu ra, anh vừa cười vừa càu nhàu:
-Vớ vẩn! Ai lung tung? Ai lười nhác?
-Này, không được cắt ngang lời của người khác đang phát biểu! Thế tại sao các đồng chí không chịu học tập. Lúc nào cũng chỉ có nghĩ đến chuyện đi bộ đội? Làm như không có các anh thì chiến trường hết người…
Thạch tròn mắt ngạc nhiên nhìn người bạn gái, vốn rất thân thiết với anh. Dù có cá tính ngang ngạnh nhưng rất biết phân tích, lắng nghe ý kiến người khác đối thoại. Sao bỗng nhiên hôm nay “dở chứng” thế này? Thạch nổi cáu:
-Không đùa đâu nhé! Có tịt ngay mỏ lại không?
-Ai đùa? Tất cả mọi người đều nói như thế. Bộ ba Thạch – Trí – Nghiệp đang tiêu cực.
Thạch cáu lắm, nhưng hình như trước đôi mắt sáng rực, đôi môi mỏng mím chặt, đôi má ửng đỏ phấn khích của Nhiên, Thạch cảm thấy có cái gì đó quan trọng thật. Anh hất mạnh mấy sợi tóc ướt nước lòa xòa trên trán, bước qua trước mặt Nhiên, không nói, không rằng, đi thẳng. Nhiên nhìn theo, cô cũng không biết là Thạch giận thật hay giả vờ. Cô lặng lẽ đi theo, được một quãng Nhiên rẽ theo lối về lán của mình. Những cánh hoa mua của Nhiên đã bắt đầu héo, trở màu tím bầm lại.

***

Thế rồi danh sách những thanh niên của trường Thiếu sinh quân số Ba trúng tuyển vào bộ đội cũng được công bố. Danh sách kéo dài, đến một trăm bốn mươi sáu chàng trai, mà tất cả mọi người đều biết, đây mới chỉ là đợt đầu. Số lượng học sinh – chiến sĩ toàn “xê” 10/5 nhập ngũ làm giảm đi bốn “bê”. Biên chế của xê 10/5 đang từ tám bê, được phiên chế lại còn bốn bê, nghĩa là giảm một nửa, trong đó gần tám phần mười là nữ. Sở dĩ nói đợt đầu là vì, tỉnh đội Hà Bắc chỉ tuyển trong số học sinh lớp Mười, (C10/5, là ký hiệu của khối lớp Mười), cuối năm nay hoặc năm sau, số học sinh khối lớp Chín (ký hiệu C91) bước sang tuổi mười tám, họ sẽ được gọi vào quân đội.
B5 của Thạch có mười tám người trúng tuyển, trong đó có Thạch. Bộ ba chơi thân với nhau từ ngày mới nhập học, thầy trò kéo sang Trung Quốc, rồi lại trở về, chỉ có Thạch và Trí đủ sức khỏe. Riêng Nghiệp, không đủ tiêu chuẩn, vì bị xếp vào hạng sức khỏe B1, nên bị loại.
-Sao thế nhỉ? Nghiệp tìm Thạch và Trí phàn nàn. So với chúng mày, tao đâu có kém cỏi gì, nếu không muốn nói, tao còn khỏe hơn. Suốt cả ngày hôm ấy, Nghiệp chạy đi khắp nơi hỏi cho ra nhẽ. Mãi khi cậu ta lên đến phòng tuyển quân của tỉnh đội thì được biết:
-Bùi Văn Nghiệp à? Ông y sỹ béo trắng, nhìn Nghiệp một cách tội nghiệp.
-Vâng ạ! Chú xem hộ cháu, có sự nhầm lẫn nào không, chứ cháu thế này, chú nhìn xem… Cháu bị loại thì vô lý quá, chú nhỉ?
Ông y sĩ gật đầu:
-Ừ, trông mày cũng to khỏe đấy chứ! Hay có ai, bố hay mẹ mày can thiệp không?
Nghiệp bực mình, cảm thấy bị xúc phạm:
-Can thiệp là can thiệp thế nào? Mẹ cháu đã mất, còn bố cháu đang ở nước ngoài…
-Thế mới chết! Có khi biết mày tình nguyện đi bộ đội, bố mày viết thư xin với đại tướng Võ Nguyên Giáp cho mày ở lại.
Lần này thì Nghiệp nổi cáu:
-Chuyện đó tính sau. Chú có xem hồ sơ sức khỏe hộ cháu không thì nói để cháu vào thẳng Ban chỉ huy tỉnh đội.
Ông y sĩ, lại nheo mắt nhìn Nghiệp:
-Làm gì mà hăng hái thế hở con? Người ta chỉ muốn thực hiện cho đủ số quân, để khỏi bị phê bình, có khi còn được bằng khen, huân chương ấy chứ. Có ai muốn giữ con ở lại đâu. Khối thằng đi rồi còn đào ngũ kia kìa…
-Chúng nó khác, cháu khác! Đừng nói chuyện đào ngũ ra đây với cháu!
Lần này, ông y sĩ nhìn Nghiệp với cái nhìn đã bớt phần xem thường, mà ánh lên một chút sự khâm phục:
-Này, xem hồ sơ là điều bị cấm kị, chỉ có thành viên hội đồng tuyển quân mới được xem thôi
-Nhưng chú đã khám cho cháu, và chính chú kết luận, thì chú phải nhớ chứ.
-Nhớ sao hết, đến mấy ngàn đứa. Nhưng chúng mày, là thiếu sinh quân trường Số Ba, thì tao mang máng…
Nghiệp ngồi ngắm ông y sĩ béo ục ịch, nước da trắng xanh nhìn thấy rờn rợn. Nhất là cái đầu tròn nhẵn như quả bầu cớm nắng, hai bên thái dương hằn những sợi mạch máu màu tím đỏ, tít trên đỉnh đầu lơ thơ vài sợ tóc vàng như những sợi râu ngô. Nghiệp thầm nghĩ: không biết bố y sĩ này sức khỏe loại mấy nhỉ? Mà bố ta có quyền gì để quyết định sức khỏe người khác, khi nhìn ông như một cái xác béo bủng vớt từ dưới suối Chân Gà lên?
Nghiệp cứ nghĩ lan man, trong khi ngồi chờ ông y sĩ béo lục một chồng hồ sơ, miệng lẩm bẩm “Bùi văn Nghiệp, Bùi… Văn… Nghiệp… , Đây rồi!”. Ông cầm tờ giấy sần sùi màu xanh tối, vốn được làm vội vã, thô thiển từ loài cây nứa, cây dang, màu xám xịt ra cửa sổ, chỗ có đủ ánh sáng.
-Đây, Bùi Văn Nghiệp, cao một mét sáu tư, nặng bốn mươi hai cân, pi-nhê( ) ba mươi mốt. Xem nào?
Nghiệp đứng lên đến sau lưng ngó qua vai ông y sĩ béo, hơi thở hồi hộp của cậu phả vào gáy ông y sĩ, khiến ông quay cái đầu quả bầu cớm nắng lại, nạt:
-Không được ngó! Để tao xem. A, đúng rồi! B1! Từ xưa đến giờ, không ai nhận sức khỏe loại B, B1 cũng không nhận.
-Nhưng… sao cháu lại B1, trong khi có đứa còn gầy hơn cháu, mà chúng nó cũng A1, A2?
Ông y sĩ cất tập hồ sơ vào cái tủ gỗ thông, quay ra nhìn Nghiệp:
-Mày có biết vì sao sức khỏe mày loại B không?
-Cháu không biết?
-Mày bị ghẻ! Khổ quá con ơi! Ăn uống kham khổ, lại lười tắm giặt, nó sinh ra ghẻ lở, hắc lào. Vạch bụng lên tao xem nào? Đấy kìa! Đỏ như hoa gấm thế kia cơ mà… Về, thôi về, chữa ghẻ đi đợt sau.
Tự dưng Nghiệp cảm thấy nổi nóng, máu hai bên thái dương giần giật, miệng khô đắng:
-Ghẻ thì ăn thua gì? Người béo bủng béo beo ra như chú thế mà còn ở bộ đội được thì mấy cái mụn ghẻ chết gì ai?
Ông y sĩ bị bất ngờ trước thái độ vô lễ của một thằng oắt con. Ông ta giương cặp mắt lồi tựa như hai cái hạt mít, vằn những tia máu mầu nâu lên nhìn Nghiệp:
-A, thằng này hỗn nhỉ? Ai cho mày ăn nói với người lớn như thế?
-Đấy, chú thử hỏi mọi người xem. Trông chú với cháu, ai khỏe hơn?
Ông y sĩ không nói, đi tới cái ghế đẩu cập kễnh, ngồi phịch xuống, thở dốc, cặp mắt lồi khép lại. Nghiệp bỗng thấy sợ:
-Chú? Chú làm sao thế?
Ông y sĩ móc chiếc khăn mùi xoa may từ một mảnh vải phin ra lau mắt. Lúc sau ông ngẩng lên nhìn Nghiệp:
-Ngồi xuống đây, thằng nhãi con…
Nghiệp cảm thấy có lỗi, cậu ta ngoan ngoãn rón rén ngồi xuống cạnh ông y sĩ. Ông nhìn Nghiệp, giọng nhẹ nhàng:
-Mày thích đi bộ đội lắm phải không? Tội thân chúng mày quá! Đáng lẽ chúng mày phải được học thành tài, chứ vội vàng gì đi vào chỗ chết chóc, tên bay đạn lạc. Nhưng biết làm sao được, Tổ quốc kêu gọi, thanh niên phải lên đường thôi. Thế mày có biết, tại làm sao chú như thế này không?
Nghiệp im lặng, cúi đầu như người con có lỗi trước cha mẹ. Tiếng ông y sĩ:
-Cách đây chục năm, chú cũng khỏe mạnh, hăng hái như mày bây giờ. Sáu năm ở Trường Sơn, sốt rét, bị thương, bây giờ chú như thế này đây, trông giống cái gì nào?
-Cháu xin lỗi… Nghiệp lí nhí.
Ông y sĩ như không nghe lời Nghiệp:
-Năm 1971, tao được ra Bắc, lấy vợ và…
-Chú được mấy con?
Ông y sĩ ngoảnh mặt đi, nói một mình:
-Con tao nó bị quái thai… Không có mũi, không có mắt, hai chân thì nhỏ như chân gà…
-Tại sao thế?
-Còn tại sao nữa? Tao ăn phải hóa chất độc của Mỹ nó rải xuống sông, xuống suối!
-Con chú còn sống không?
-Sống! Nó còn sống, nhưng không ra hình người…
-Sao chú không phục viên?
Đến lượt ông y sĩ nổi nóng, làm như chính Nghiệp không cho ông phục viên, xuất ngũ:
-Mày tưởng cả cái tỉnh đội này chỉ có mình tao thế này thôi à? Ở chiến trường về, sống sót là may rồi. Những người khỏe thì lại trở vào để chiến đấu, như tao thì phải ở hậu phương chứ! Yếu hơn thiếu! Mày ngốc lắm, thằng cu ạ…
Cảm nhận thấy ông y sĩ này tốt bụng, thương người, Nghiệp đánh bạo:
-Chú! Chú sửa sức khỏe cho cháu lên A2 nhé!
-Thôi được, tao sẽ sửa…
Nghiệp nắm lấy tay ông, lắc lắc. Chợt ông y sĩ giằng tay ra, nhìn Nghiệp:
-Nhưng mà không! Tao không có quyền sửa sức khỏe cho mày. Tao sẽ cho mày thuốc về chịu khó bôi cho nó khỏi ghẻ. Đợt sau đi chưa muộn. Chiến tranh còn dài lắm, con ơi!
Nghiệp thấy có nói với ông cũng vô ích, hơn nữa, anh cũng thấy thương ông, vì anh thấy, ông cũng thương anh.
-Đợt sau là đợt nào? Đến bao giờ mới tuyển?
-Không lâu nữa đâu! Hai ba tháng là cùng. Tao tham gia tuyển quân hơn năm nay rồi, tao biết…
Nghiệp không còn giữ ý định vào gặp tỉnh đội trưởng nữa, cậu thất thểu đi về phía suối Chân Gà! Trên đầu sấm vẫn lục bục, còn mây thì sà xuống ngang tầm ngọn cây bạch đàn, ẩm ướt.

***

Mưa càng rả rích, thối đất, thối đá. Con suối Chân Gà cũng trồi sụt thất thường, đang xanh biêng biếc bỗng dưng đục ngầu, sủi bọt. Kế hoạch lao động chặt nứa vào kỳ nghỉ hè năm nay bị hoãn lại, lý do không phải vì mưa. Các B, tức các lớp vẫn lên lớp, chỉ có những ai trúng tuyển quân sự thì được nghỉ. Thế mà bỗng nhiên, hôm nay được ngày nắng hửng, khô ráo. Trí định xin phép về Hà Nội thăm mẹ, anh chàng rủ Thạch, nhưng Thạch không muốn đi, vì anh không có ai là họ hàng ở Hà Nội. Lúc đầu Thạch định xin một ngày về Phổ Yên thăm mẹ, nhưng không mượn được xe đạp, mà đi bộ thì lại sợ trễ ngày tập trung, nên thôi. Những người trúng tuyển dùng hết thời gian nghỉ để viết lưu bút. Nhìn các bạn ngồi cặm cụi gò lưng trên mặt hòm viết lưu niệm cho mọi người, Nghiệp thẫn thờ đi về phía lớp để học nhóm, nhưng rồi lại rẽ vào một lối nhỏ, ngồi xuống thân cây đổ, còn hăng mùi nhựa mắt nhìn đăm đăm vào những cái tai nấm mộc nhĩ xòe ra mềm mại, hồng hồng như tai chuột con nhưng tâm trí cậu ta để mãi đâu đâu. Thấy thế phó bí thư chi đoàn Nhiên đến đứng chắn trước mặt Nghiệp:
-Anh Nghiệp! Đồng chí làm gì mà thần người ra thế? Người ta ra chiến trường là nhiệm vụ của họ. Đồng chí ở lại học tập cũng là nhiệm vụ. Sao lại tỏ ra tiêu cực thế?
Nghiệp quay mặt đi, không thèm đáp lời Nhiên, nhưng cô ta vẫn liến thoắng:
-Em nói thế này là xây dựng, góp ý với anh. Đừng đến lúc phải đưa ra chi đoàn kiểm điểm…
Nghiệp quay phắt lại, gằn giọng:
-Cái con bé này, có im mồm đi không ông vả cho không còn cái răng ăn cháo bây giờ!
-Ơ, cái anh này!
-Ơ ơ cái gì! Cút ngay!…
Nhiên tuy là một cô gái luôn tỏ ra ngang tàng, nhưng trước thái độ dữ dằn của Nghiệp cô cũng thấy sợ. Nhỡ ra ông tướng này ngộ lên, thì dại. Cô nói nhẹ nhàng:
-Thôi vào học đi, mai kiểm tra lý đấy.
Thấy Nghiệp vẫn lầm lỳ, Nhiên ngồi xuống bên cạnh:
-Anh Nghiệp, em biết anh vì mấy cái mụn ghẻ nên bị loại. Từ mai, em đun nước lá xẻ ba cho anh tắm nhé.
Nghiệp nhìn Nhiên, đã không còn hằn học nữa:
-Ai bảo mày tao bị ghẻ?
-Chú Nhẫn bảo thế!
-Chú Nhẫn nào?
-Chú y sĩ ở phòng tuyển quân tỉnh đội ấy. Chú ấy lấy bà cô em…
Nghe nhắc đến ông y sĩ tỉnh đội, Nghiệp dịu hẳn xuống:
-Thế à? Thế mà tao không biết… Hay là?
Nhiên là một cô gái thông minh, cô đã hiểu ngay:
-Không! Chú ấy nguyên tắc lắm, không sửa giấy tờ đâu. Với lại cũng muộn rồi, đợt này khóa sổ từ hôm nọ cơ. Đi đợt sau vậy. Anh Nghiệp này, đợt sau tuyển cả nữ nữa đấy…
-Thế à? Nhưng mà nữ thì cũng chả lấy mày đâu…
Nhiên bĩu môi:
-Hứ! Để rồi xem!
Vừa lúc đó, Thạch đến sau lưng hai người, anh ngồi xuống cạnh Nhiên, Nghiệp nhích ra, nhường chỗ cho Thạch ngồi giữa. Thạch nói với Nhiên:
-Nhiên này, cái hòm sách của anh, chưa biết gửi đâu. Hay em giữ hộ anh nhé?
Nhiên ngạc nhiên:
-Thế anh không về qua nhà à?
-Không! Để lên đơn vị đã. Bây giờ về không kịp, sáng mai xe tỉnh đội vào đón rồi.
Chợt mọi người im lặng, không khí trầm hẳn xuống, tiếng ve rừng ong ong ngân lên, lúc to, lúc nhỏ, xa gần… như một giàn hợp xướng đang đệm nhiệt thành cho một cuộc từ biệt hào hùng. Tiếng Nhiên thảng thốt:
-Bao giờ anh lấy?
Thạch cảm thấy bối rối, anh nhìn Nhiên rồi lại nhìn lên một khoảng trời trống nhỏ hẹp sau tán cây sồi xanh ngắt. Bỗng nhiên Thạch nhận thấy có một cái gì đó vừa thân thuộc, lại vừa mới lạ dội về trong sâu thẳm. Tại sao anh không đem về để mẹ giữ, mà lại gửi cho Nhiên? Trong cái hòm gỗ thông vốn để đựng xà phòng của Liên Xô đã theo anh bao năm trời, đã thành một vật kỷ niệm thiêng liêng của một thuở học trò. Trong đó chỉ có sách, những cuốn sách được Thạch coi như những người bạn thuỷ chung: Thép đã tôi thế đấy, Ruồi trâu, Cửa sông, Hòn Đất… và có cả một cuốn của nhà văn Trung Quốc Triệu Thụ Lý, đó là cuốn tiểu thuyết có tên Động Linh Tuyền. Câu chuyên kể về hai cô cậu du kích thiếu niên bị quân phát xít Nhật bao vây, phải rút vào trong một cái hang, đúng hơn là một cái động, lại là đầu nguồn của một dòng suối thiêng: Linh Tuyền. Những ngày tháng học tập sơ tán bên đất Trung Quốc, đọc cuốn sách, đôi khi Thạch có cảm giác, hai cô cậu du kích ấy chính là anh và Nhiên!
-Nếu lên đơn vị được về nghỉ phép, anh sẽ ghé về trường, thăm mọi người. Còn nếu không về được mà phải đi B ngay, em cho anh gửi, đến khi nào anh còn sống, trở về…
Thạch đợi một câu đáp của Nhiên trước câu nói và giọng nói nhuốm màu mã thượng ấy, nhưng Nhiên vẫn im lặng, cằm tựa lên đầu gối, một góc chéo khăn mù soa cắn trong miệng.
Nghiệp nhìn Thạch từ phía nghiêng bên má, ánh nắng chiếu từ trên tàn cây xuống khuôn mặt xương xương, làm hằn lên vẻ kiên nghị của Thạch, mà cảm thấy bạn mình đẹp lên một cách kỳ lạ. Có lẽ chỉ thiếu một bộ quân phục và hai miếng nỉ đỏ, gắn lên đó mỗi bên một ngôi sao nhỏ màu bạc: cấp hiệu binh nhì, mới toanh, là Thạch trở thành thần tượng của bao nhiêu người. Nghiệp thở dài, rồi nhổm đứmg lên. Thạch kéo bạn lại:
-Ngồi đây tí đã, Nghiệp!
Tự dưng, Nghiệp thấy nghẹn trong cổ, anh muốn khóc! Ở tuổi mới già mười tám, nhưng Nghiệp đã sớm “già” đi trong mắt mọi người. Mà chính Nghiệp cũng thấy mình có vẻ như “lớn” hơn mấy anh em chơi thân với nhau. Mê sách, thích làm thơ, hay triết lý, dù là chỉ triết lý “vụn vặt”, đã làm cho Nghiệp đạo mạo hẳn lên. Đặt bàn tay lên tay Thạch đang nắm vai mình, Nghiệp không quay lại, anh nói nhỏ:
-Mai mày đi rồi, hãy nói với Nhiên những điều cần nói…
Thạch bật cười:
-Thôi đi ông tướng. Có gì mà cần nói. Mà có điều gì cần thì tớ nói với tất cả các cậu, chứ nào chỉ riêng có Nhiên…
-Với tao thì chẳng có gì phải nói, mà có nói cũng bằng thừa. Riêng con gái, rất cần nghe những lời nói chân thành của người bạn tình lúc sắp ra trận…
Thạch nhìn Nhiên, mỉm cười rồi nắm vai áo Nghiệp xoay lại:
-Con khỉ? Bạn tình nào? Ra trận nào? Mày làm như sáng mai tao vào chiến trường ngay không bằng. Còn huấn luyện, đeo đá mửa mật ra ấy chứ!
Nghiệp vẫn giữ vẻ mặt ràu ràu:
-Nhưng dù sao, ngày mai mày cũng sẽ khác. Mày khoác lên người bộ quần áo chiến sĩ, là mày đã đặt lên vai một trách nhiệm nặng nề, đối với sự mất còn của Tổ quốc…
-Khiếp thật! Thạch bĩu môi. Hàng vạn, hàng triệu con người chứ đâu phải chỉ mình tao mà mày làm như tao ghê gớm lắm. Mày không được tuyển đợt này, thì đợt sau, làm như hết giặc rồi ấy. Mà giả sử mày không vào bộ đội, thì mày học lên làm kỹ sư, bác sĩ hay cái gì đó, nay mai hòa bình, thống nhất, mày cống hiến, cũng là làm việc cho tổ quốc chứ…
-Tất cả mọi sự hy sinh đều cao quý, nhưng được hy sinh bằng máu là cao quý nhất!
-Lại học mót ở đâu rồi phải không? Thôi không dông dài nữa. Nghe tao nói đây. Mai tao với thằng Trí lên tỉnh đội bằng xe ô tô, không ai phải đưa đón. Chúng mày cứ học bình thường. Sao cuốn sổ lưu niệm của tao, mày không viết lấy một dòng?
Nghiệp cười như có lỗi:
-Lúc nào cũng có đứa nó giành, có để cho tao viết đâu. Mà nếu tao có viết cũng chẳng biết viết gì. Thôi được rồi, để tao viết, thế này nhé: Hẹn gặp giữa Sài Gòn! Được không?
-Được đấy! Nhưng mà mày phải chữa cho khỏi ghẻ đi chứ! May mà có hôm tao ngủ chung với mày, thế mà không bị lây… Tao nghe bà ngoại tao bảo: thà ở chung với người hủi chứ không thể ở với người ghẻ!
-Thôi đừng nói nữa, Nhiên nó hứa sẽ đun nước lá xẻ ba cho tao tắm rồi. Bây giờ tao đi tìm thằng Trí đây. Nó đang ở đâu nhỉ? Còn mày… kìa Nhiên đâu rồi? Khỉ quá, mải triết lý để nó một mình, tủi thân…
Thạch và Nghiệp ngơ ngác nhìn quanh, không thấy Nhiên đâu. Rừng đã ngả sang màu tối nhạt. Có tiếng nấc nhẹ sau một đám cây đùng đình.
-Thạch! Nghiệp hất hàm. Hãy nói với Nhiên những gì đi. Tao biết lúc này “muốn nói trăm câu, mà một câu không nói nổi”, nhưng cũng cố mà an ủi nó. Con bé cứng đầu thế nhưng dễ tủi thân lắm đấy. Kìa, đi đi…

***

Trí đi nhờ được một chiếc xe Giải Phóng chở vôi của một xí nghiệp về Hà Nội, nhưng chiếc xe lại không chạy vào thành phố mà chỉ đến Gia Lâm. Trời đã tối, anh cảm ơn bác tài xế bằng một gói thuốc Đ’Rao:
-Sang thế chú mày? Bác lái xe râu ria xồm xoàm, mắt trắng dã, môi thâm sì, nhìn gói thuốc bao bạc từ tay Trí. Chú mày làm gì có tiền mà mua. Hay mày con “ông cốp” nào thế?
-Không phải con ông cốp, mà là cháu ông cốp! Trí vừa cười, vừa nói dứt khoát.
-Biết ngay mà, bác tài cười trừ, phô hàm răng cải mả. Nhưng mà tao lấy một nửa thôi, còn để phần mày. Vừa nói, ông vừa xé tung bao thuốc. Đây…
-Không, chú cứ cầm cả mà hút. Cháu hãy còn. Được chú cho đi nhờ, cháu xin cám ơn chú nhiều lắm…
-Lại còn cả cám ơn nữa chứ? Thôi đúng mày là con cái từ miền Nam mới ra phải không? Nghe vẫn còn nguyên giọng miền Nam. Ông quay sang nói với một phụ nữ ngồi cạnh trong buồng lái. Người miền Nam mới có câu cửa miệng “cám ơn, xin lỗi”, chứ ngoài này đám thanh niên nó đếch biết cám ơn ai bao giờ đâu. Dạo tớ mới ở trong ấy ra, quen miệng, cám ơn, bị nó cười khẩy… Thế bây giờ mày đi đâu hả thằng cháu? Hay là vào nhà tao ngủ rồi mai sang Hà Nội?
-Không ạ! Cám ơn chú. Cháu phải về ngay để chào mẹ cháu đêm nay, sáng mai lại lên Hà Bắc.
-Làm gì mà gấp thế?
-Dạ, trưa mai cháu nhập ngũ…
-Nhập ngũ là thế nào? Chúng mày vừa mới từ trong ấy ra cơ mà?
-Ra lâu rồi, chú ơi, gần hai chục năm rồi. Thôi, chào cô chú…
Trí nhảy khỏi ca bin, lao lên vỉa hè, cắm đầu chạy bán mạng về phía cầu Long Biên. Được khoảng vài trăm mét, thấy mệt vì quá sức, lại đói, Trí thả lỏng hai chân, chạy bước một. Hai cây số lên cầu, ba cây số trên cầu, đến phố Phủ Doãn hơn cây số, Trí dứt khoát chỉ sử dụng hết một giờ. Bây giờ có lẽ khoảng tám giờ tối. Đang chạy, mải nghĩ đến lúc được gặp má, anh sẽ nói thế nào với má nhỉ? Tốt nhất là hãy nằm thở, rồi kêu má nấu cho một xoong mì. Không, phải kêu chị Thuý dẫn ra cửa hàng ăn một bát, không, phải hai bát phở. Không người lái cũng được, nhất định là hai bát! Nhưng nói thế thôi, thế nào “bà” Thuý cũng lùng được một quán phở có hạng. Hồi “mười hai ngày đêm” bom đạn là thế mà bà ấy vẫn chiêu đãi cậu em được một bát phở bò “thứ thiệt” ngay trước mặt ga Hàng Cỏ, ngõ Nam Ngư…
Đang miên man, bỗng Trí giật mình bởi tiếng còi xe có vẻ gắt gỏng, tiếp đó là vệt đèn pha quét loang loáng. Trí vừa chạy vừa ngoái cổ lại, thì chiếc xe ô tô đã đỗ xịch ngay tầm chạy của anh. Bác tài xế rậm râu, sâu mắt đã quát to:
-Thằng kia! Lên xe, tao đưa sang Hà Nội!
Trí lấy tay che ánh đèn ô tô, bước lại, nhận ra chiếc xe Giải Phóng, anh ngần ngừ rồi định trèo lên thùng. Nhưng người lái xe đã nhoài người mở cánh cửa ca bin:
-Lên đây! Lên đây…
Trí ngồi vào cái nệm cọt kẹt, nhão nhoẹt, có cả một cái gì nhòn nhọn xoi vào mông, kéo cánh cửa sập lại, vẫn còn thở dốc. Chiếc xe cài số rung lên ken két, nghe rợn óc, rồi khó nhọc bò đi. Trí định nói câu gì đó để tỏ lòng biết ơn bác tài xế, nhưng nhớ tới lúc xin đi nhờ, năn nỉ ông ta đến gãy lưỡi, lại buột miệng:
-Sao chú lại đuổi theo cháu?
-Hừ! Hỏi dở bỏ mẹ! Tao thương mày, thằng nhỏ ạ. Về thăm “bà già” rồi mai vào chiến trường rồi. Để mày chạy thế, tao áy náy quá…
-Chú cũng là người miền Nam tập kết à?
-Không! Tao ở trong ấy bảy năm, mới ra…
-Hèn nào…
-Chiến trường ác liệt lắm, cố mà rèn luyện cho tốt. Nhưng mà cái sự sống chết nó cũng còn có số. Chả việc gì phải sợ. Tao bị thương phải cắt đi gần hai thước ruột, mày thấy có ghê không?
-Hai thước? Trí ngạc nhiên.
Chiếc xe già nua lấy đà lên cầu, nhưng mới vào đến nửa đường dẫn đã phải vội vàng nép vào một bên tránh đoàn xe lửa chạy cùng chiều. Dưới anh trăng mờ, Trí nhận ra những khẩu pháo phủ bạt kín mít, nhưng vẫn vươn lên cái nòng dài ngoẵng, nằm nghễu nghện trên những toa xe lửa không có thành. Ông tài xế quát to:
-Pháo cao xạ 57 ly đấy! Kỳ này thì vào tuốt trong ấy…
Đoàn xe lửa đi qua, yên tĩnh trở lại.
-Chính xác tao bị cắt mất một mét tám mươi sáu xăng-ti. Tưởng chết thế mà không việc gì…
Trí thầm cảm phục ông tài xế xấu người, thô kệch nhưng tốt tính, chắc chắn phải là người can trường lắm đây! Chợt nghĩ tới người đàn bà ngồi cạnh lúc nãy, anh hỏi:
-Cái cô ngồi trên xe với chú đâu rồi?
-À, bà chủ nhiệm hợp tác xã của tao. Tao bảo bà ấy ngồi ở gốc cây đợi tao đưa mày về với bà già mày rồi quay lại đón.
-Cô ấy không nói gì sao?
-Nói cái gì? Giúp một thằng sắp ra trận, tiếc gì một thôi đường, vài lít xăng. Càu nhàu với tao sao được, tao thì cho một bài…
Chiếc xe qua khỏi cầu, xuống dốc Trí đã nhận ra nó đang đi vào phố Trần Nhật Duật. Bỗng cái đống sắt cũ kỹ, Trí nghĩ thế, khựng lại, nhảy gần như dựng đứng lên. Phanh gấp, làm Trí ngã dúi về phía trước, suýt thì đập trán vào tấm kính, may mà nó đã bị vỡ hoặc được tháo ra. Vừa lúc ấy, Trí nhìn thấy hai chiếc xe đạp Favorit của hai cặp thanh niên đèo nhau từ trong ngõ lao ra, lấn hết nửa đường. Họ còn lượn ngoằn ngoèo trước bánh chiếc Giải Phóng. Lập tức, bác tài dấn ga, lao lên chặn hai chiếc xe đạp ép vào lề đường. Họ loạng quạng rồi ngoắc ghi đông vào nhau. Vừa lúc ấy bác tài xế Giải Phóng lao đến nắm cổ áo một tay:
-Chúng mày đi đứng kiểu gì thế?
Một đứa trong bọn cũng cỡ tuổi Trí, sừng sộ:
-Thằng giặc lái già? Muốn gì?
“Bốp”! Một cái bạt tai:
-Muốn thế này này! Muốn cứu sống chúng mày!
-A!… Đứa kia ngã chúi, nhưng đã có vẻ thấy sợ, kêu lên. Dám đánh chúng ông hả?
Bác tài lùi lại:
-Dám đánh chứ sao lại không? Tao đánh thì cùng lắm chúng mày chỉ bôi tí thuốc đỏ, nhưng cái bánh xe kia kìa, nó không nhẹ tay thế đâu.
Lập tức cả bốn đứa lao vào bác tài xế, đấm túi bụi. Trí bật cửa nhảy xuống, nhè đứa gần nhất đứng xoay lưng lại đá một cú vào mông, hét to:
-Dừng ngay lại!
Bọn kia ngừng tay, nhìn Trí:
-Mày là thằng nào?
-Thằng nào cũng được. Nhưng chúng mày chạy xe đạp như thế là tự sát. Lại còn liên lụy đến chú lái xe…
Một tên hằn học:
-Cái thằng giặc lái đó luẩn quẩn ở đây để ăn cắp, mày có biết không? Phải quẳng lão ta vào chiến trường kia kìa, để lão ấy bớt nhắng đi.
Trí giận lắm, hai tay nắm chặt thủ bên túi quần:
-Chúng mày ngu lắm! Muốn đánh nhau không? Nghe giọng nói của tao, hẳn chúng mày biết tao là dân gì rồi chứ? Dân đánh nhau chuyên nghiệp đây, chơi không?
Bọn họ có vẻ chùn. Trí ôn tồn:
-Chú lái xe đã từng sống bảy năm ở chiến trường, lại bị thương cắt mất hai mét ruột. Ai dám bảo chú ấy là kẻ trốn chui trốn lủi để ăn cắp? Còn các cậu, các cậu có biết không? Thấy tớ chạy bộ về thăm mẹ, trước khi nhập ngũ, chú ấy thương tớ, đã đánh cả một chuyến xe để đưa tớ về. Chú ấy là một người đáng kính…
-Ngày mai mày cũng nhập ngũ à? Ở đâu?
-Ừ! Ở Hà Bắc!
Im lặng, không hiểu bọn họ nghĩ gì, lát sau, một đứa tiến đến nắm tay chú lái xe:
-Bọn cháu xin lỗi chú. Tại chúng cháu nghịch ngợm thế thôi. Với lại, cả bốn đứa cháu ngày mai cùng lên đường nhập ngũ, vào chiến trường, nên cũng có tí ngang tàng, vương vấn. Trai Hà Nội mà. Chúng cháu tệ quá phải không chú…
Dưới ánh đèn đường mờ đục, chú lái xe đứng đờ người ra, để cho thằng kia sờ mặt, xong lại xoa nắn khắp người. Rồi nó đến trước mặt Trí:
-Mình cũng xin lỗi cậu. Chúng mình nghịch quá. Mình là Phương, còn kia: Tùng, Thanh, Vũ. Cả bốn đứa tớ sớm mai tập trung ở sân bay Bạch Mai…
Bỗng dưng Trí thấy nghẹn ngào, muốn khóc quá. Anh ôm lấy Phương, vỗ vỗ vào vai hắn:
-Các cậu cũng cho mình xin lỗi. Thôi, về nhà chuẩn bị đi…
Bọn chúng dựng xe, phủi quần áo định đi, bỗng chú lái xe quát to:
-Các em! Tất cả hãy quẳng xe đạp lên thùng xe của anh. Tao sẽ lái xe chở các cậu, giễu binh quanh Hà Nội một vòng để từ biệt thủ đô yêu dấu, ngày mai lên đường…
Cả bọn ngơ ngác, rồi đồng thanh:
-Hua ra… a! Hoan hô chú!
Thế là chúng ào lên cái thùng xe còn đầy bụi vôi bột, cười nói như đi hội. Vôi bột vương lên áo quần, đầu tóc, trắng phếch, làm chúng càng phấn khích. Trí ngó vào ca bin:
-Cháu cũng lên thùng với tụi nó, chú nhé!
Bác tài xế mỉm cười, gật đầu.
Chiếc xe Giải Phóng kêu cành cành, lắc lư chở năm chàng trai tiến vào trung tâm thành phố giữa màn đêm đã sắp đi vào yên tĩnh. Khi xe chạy qua cổng bệnh viện của má, Trí bần thần không biết có nên kêu chú tài xế dừng xe cho xuống không? Bỗng một tên đứng bên cạnh hát lên:
“Năm anh em trên một chiếc xe tăng.
Như năm bông hoa nở cùng một cội”
Lập tức cả bọn ùa theo. Trí cũng biết bài hát này, và anh chàng hát theo như một sự lôi cuốn rộn rã, bằng lòng nhiệt thành bừng bừng.
“Năm quả tim cùng nhịp đập là giòn
Một con đường đất đỏ như son
Một màu rừng xanh bạt ngàn hy vọng
Một ý chí bay ra đầu ngọn súng ( )…
Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây, Ga Hàng Cỏ… Chào nhé, hẹn ngày gặp lại…
Đêm ấy các chàng trai về nhà ngủ một đêm cuối với cha mẹ, với anh trai, với chị gái… Ngày mai họ lên đường, họ hẹn gặp ở mặt trận, và lãng mạn hơn nữa, giữa Sài Gòn, thành phố rực rỡ tên vàng.
Trí cũng không ngờ rằng anh sẽ còn có ngày gặp lại Phương. Nhưng đấy là chuyện của gần một năm sau, trong một hoàn cảnh khác, cũng thật trớ trêu, ở một mặt trận ác liệt: mặt trận Xuân Lộc – Long Khánh, cách thủ đô Hà Nội nơi anh đang đứng hôm nay, một ngàn sáu trăm ki lô mét, về phương Nam…

CHƯƠNG BA

3 giờ sáng, ngày 28 tháng Ba năm 1975, sân bay Tân Sơn Nhất.
Tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam Cộng Hoà, đại tướng Cao Văn Viên trong bộ lễ phục chỉnh tề, bốn bông mai vàng lấp lánh trên ve áo, tua ngù vàng ánh tuôn thẳng xuống bộ ngực chi chit mề-đay, toàn thân cứng ngắc như một cây cột đá trong vườn treo Pabillon, trắng toát, đờ đẫn trong phòng đợi. Hai phút sau, chiếc máy bay Beoing của Hãng hàng không Panam xuất hiện trên đường băng, nó từ từ lượn một vòng rồi tiến sát vào nhà ga. Đại tướng quay lại mỉm cười với Đồng Văn Khuyên đang đi sát ngay sau:
-Vị cứu tinh của Quân lực đã tới!
Là trung tướng Tham mưu trưởng cơ quan Bộ tổng tham mưu, người làm tham mưu cho tham mưu này vốn được tiếng là nhã nhặn, ga lăng và mưu sâu kế hiểm, và vì thế, Đồng Văn Khuyên là người nổi tiếng vì được vinh thăng quân hàm “nhanh đến chóng mặt”. Có lần trung tướng Đặng Văn Quang, tức Quang Mập, cố vấn an ninh của tổng thống đã nói: thằng Khuyên “há miệng chờ sao”. Tất nhiên, không ai bắt được một lỗi nhỏ nào của trung tướng, ngược lại tướng Khuyên còn được các tướng lĩnh phong cho biệt danh “tiểu Tào Tháo” của quân lực. Tuy nhiên, ở bên cạnh “ông tướng Bắc kỳ” này, Tào Tháo nhỏ rất khó nắm bắt được suy nghĩ của sếp, cũng như ý nghĩa trong mỗi câu nói của đại tướng. Rất ít khi hai người ngồi riêng và nói về những vấn đề riêng tư. Đại tướng ra lệnh nhỏ nhẹ, vừa phải, đủ to để thị oai, nhưng cũng vừa nhỏ để thân mật. Nếu cấp dưới nghe không rõ, thì đó là lỗi của cấp dưới, đại tướng đã nói vào tai rồi còn gì? Trong rất nhiều trường hợp Đồng Văn Khuyên không biết đại tướng nói chơi hay nói thiệt, nhất là khi ông vừa nói vừa mỉm cười, như vừa rồi. Tướng Khuyên lại phải cố hiểu. Lát sau Khuyên cũng cười:
-Thưa đại tướng, tôi nghĩ “cứu tinh” của Quân lực Việt Nam không phải ở trong chiếc phi cơ kia đâu ạ. Mà là…
Viên hiểu ngay câu nói của Khuyên, dù trung tướng bỏ lửng, theo đúng tính cách của ông đối với đại tướng từ lâu nay. Đại tướng ngửa cổ trông hờ hững lên những ngôi sao đang lấp lánh trên bầu trời Tân Sơn Nhất, nói vừa đủ nghe:
-Rồi trung tướng sẽ thấy, tổng thống không thèm nghe anh em mình đâu. Mà trung tướng có biết vì sao không?
-Tôi ít được làm việc trực tiếp với tổng thống, thưa đại tướng!
Khuyên nói vậy đúng mà cũng không đúng. Trong mọi cuộc đàm luận mà Bộ Tổng Tham mưu làm việc với tổng thống để báo cáo tình hình, bao giờ cũng có mặt cả hai người. Nhưng bao giờ cũng chỉ do trung tướng báo cáo, Cao Văn Viên chỉ ngồi nghe, thỉnh thoảng gật đầu khích lệ. Ngược lại, tổng thống có hỏi gì thì cũng chỉ hỏi đại tướng, làm như không có mặt Đồng Văn Khuyên ở đó.
-Vì mình nói tiếng Việt!
Nhưng tướng Khuyên thì không thể im lặng:
-Dạ, có lẽ vậy!? Tiếng Việt không có cái tiếng sột soạt của đồng dollar?
Tướng Viên cười khùng khục, rồi bất thần phá lên cười lớn, tiếng cười đầy vẻ đắc ý, khiến Khuyên cũng cười theo, thoải mái. Mấy viên sĩ quan tùy tùng đi theo cùng cười mỉm.
Phi cơ dừng hẳn, chiếc xe chở cầu thang như chực sẵn, chạy vút ra, gắn cầu thang vào thân chiếc máy bay khổng lồ. Cánh cửa mở, thì cũng là lúc hai ông tướng của Quân lực Việt Nam Cộng hoà đi giữa hai hàng tiêu binh. Từ trên máy bay, một người Mỹ cao to, dáng đi hơi khom người như để tránh đụng đầu vào cửa máy bay, xuất hiện. Ông ta mặc một bộ đồ quân sự Mỹ, áo ngắn tay, nhưng không gắn quân hàm, đầu để trần, gió tạt mái tóc vàng lơ phơ trước trán. Người Mỹ này cao và hơi gầy, da đỏ au dưới ánh đèn cao áp sân bay sáng xanh, nhanh nhẹn bước xuống. Viên sĩ quan chỉ huy đội quân danh dự, đi những bước chân thẳng và dài đến đứng trước mặt ông ta, hô to:
-Quân lực Việt Nam cộng hoà do đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng làm đại diện, xin nghênh tiếp ngài đại tướng Fred Weyand, Tham mưu trưởng lục quân Hoa Kỳ đến đất nước Việt Nam!
Cả Viên và Khuyên đều đứng ngây ra, chờ Weyand. Khi ngài Tham mưu trưởng lục quân Hoa Kỳ cười gằn trước mặt, đại tướng Viên mới nhìn vào mặt khách:
-General! Welcome to Vietnam! (Xin kính chào đại tướng đã đến Việt Nam).
-Hi, Vien! My friend! (Chào Viên, bạn của tôi).
Nếu bất kỳ một ai, kể cả tổng thống mà gọi đại tướng như thế là bất kính, là xếch mé, nhưng với người phương Tây, cách gọi của họ như thế có thể chấp nhận được, nhất là đó lại là Weyand…
Fred Weyand chính là “Đấng tối cao” mà tổng thống Việt Nam cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu rất cần để kêu gọi việc Mỹ tăng khẩn cấp viện trợ và cho máy bay B52 ném bom trở lại Việt Nam. Có lẽ tất cả những người bạn đồng minh Hoa Kỳ, không ai, kể cả tổng thống đương nhiệm của nước Mỹ, G. Ford, ngoài Weyand đã để lại niềm tin cho tổng thống Việt Nam cộng hòa. Weyand đã làm việc ở Việt Nam suốt mười năm, đại tướng có một tư thế chỉ huy dày dạn khiến cho các sĩ quan, tướng lĩnh và viên chức Việt Nam dễ dàng đặt lòng tin vào ông. Weyand được thăng chức từ sư đoàn trưởng lên chỉ huy trưởng cố vấn quân sự Mỹ ở Việt Nam, và thay thế tướng Creighton Abrams giữ chức tổng chỉ huy quân đội Mỹ tại Việt Nam vào tháng 6 năm 1972, cho đến tận ngày cuối cùng vị đại tướng đã cùng với người lính Mỹ cuối cùng rời Việt Nam, tháng 3 năm 1973, trong một tình cảm khó tả. Việt Nam đã gắn bó với Weyand, hay đúng hơn, con đường danh vọng của đại tướng gắn liền với miền đất nhiệt đới kỳ diệu này. Nhìn lá quốc kỳ sao – sọc của nước Mỹ đã được gấp vuông vắn trên tay viên sĩ quan, chuẩn bị đem lên máy bay, tướng Weyand có một cảm giác luyến tiếc. Sau Hiệp định Ba Lê, Nam Việt Nam đã lâm vào tình thế khốn khổ, dù có thể có sự bất ngờ, nhưng lại hiểu được. Weyand đã hiểu được, thậm chí quá hiểu những người bạn, những đồng minh của Mỹ. Vì thế trong những ngày hấp hối của Việt Nam cộng hòa, tổng thống Mỹ G. Ford đã cử Weyand sang Việt Nam. Bởi vì ông cũng vẫn còn một chút, một chút thôi, hy vọng…
Đoàn xe chuẩn bị rời sân bay, đại tướng Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam, nói với đại tướng tham mưu trưởng lục quân Hoa Kỳ:
-Tổng thống chúng tôi rất nóng lòng muốn gặp Ngài! Rất, rất mong…
Weyand cười nhạt:
-Thì sứ mệnh của tôi do tổng thống Geral Ford trao cho khi đến nước các ngài cũng chỉ có thế!

***

Tại phòng khách rộng lớn và bóng lộn trong dinh Độc Lập, tràn ngập mùi thuốc lá và tất nhiên, rượu Wishky, có năm người. Về phía Việt Nam cộng hòa có tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, hai vị tướng là đại tướng Cao Văn Viên tổng tham mưu trưởng và trung tướng Đặng Văn Quang. Về phía khách có Martin, đại sứ và ngài đại tướng Weyand, tham mưu trưởng lục quân Hoa Kỳ, vừa từ Mỹ bay sang mấy ngày nay. Thế thôi, không có ai khác, kể cả cận vệ của tổng thống, hay tướng Khuyên như vẫn thường thấy. Với tổng thống đây là lần gặp thứ ba với đại tướng Weyand kể từ hôm ông đặt chân trở lại Việt Nam. Hai lần trước, thì chỉ có chủ nói, khách nghe. Mà chủ cũng chỉ nói về viện trợ của Hoa Kỳ “hẻo” quá, nên dẫn tới những sai pham ở chiến trường, dẫn đến những quyết định rút bỏ hai quân khu I và II của tổng thống. Tổng thống cứ nói, trong khi ngài tham mưu trưởng lục quân thì uống rượu và hút thuốc, còn ngài đại sứ Martin thì ôm ngực thở vì bệnh phổi đang hành hạ, nhất là trong cái phòng đầy ắp độc hại này. Quỷ bắt cái thằng này đi cho rồi, nó rít thuốc và nốc rượu nhiều thế, Martin rủa thầm Weyand. Hôm sau Weyand đi thị sát chiến trường. Đến đâu đại tướng cũng được các sĩ quan và binh sĩ đồng minh đón tiếp nồng hậu. Bởi thế nên ngài nói dữ lắm, ngài hứa sẽ “chiến đấu bên cạnh các chiến hữu đồng minh”, đến… toàn thắng! Ngài vừa đi khỏi Nha Trang, thì cộng sản đã tràn ngập thành phố này, khiến tổng thống cáu lắm. Bởi thế, trong cuộc gặp lần thứ ba này, vừa an vị, nhấm nháp Wishky, đốt thuốc được vài hơi, bất chấp cả xã giao, rào đón, tổng thống nói ngay, rất gay gắt:
-Thưa ông đại tướng Weyand, (tổng thống, mỗi khi nóng giận thường hay có kiểu nói bỗ bã, lộn xộn thế, Cao Văn Viên vẫn bảo đó là giọng điệu của tên thiếu úy đường Năm, Hải Dương – nơi tổng thống “phát tích” ở đó, thời ông còn trong quân đội Pháp), anh em cán binh vừa chạy từ Nha Trang về nói với nhau sao không thấy đại tướng ra cùng chiến đấu với họ…
Đại tướng Cao Văn Viên giật mình nhìn tổng thống của mình, còn Weyand thì chỉ cười. Ông cúi xuống nhìn ly rượu mạnh như muốn đo lường đô mạnh, hoặc dung lượng của nó, rồi ngửa cổ uống cạn. Xong, ông mím cái miệng hơi móm lại, để thưởng thức rượu, hay câu nói xỏ của tổng thống, rồi mới hất món tóc lòa xòa trước trán, nói bằng cái giọng khàn khàn:
-Tôi xin chia xẻ với ngài tổng thống về những khó khăn và tổn thất của quân lực các ngài. Là một quân nhân, tôi thật sự đau lòng và… đại tướng ngưng lời để thu hut người nghe.
-… Tôi được biết chính phủ Việt Nam cộng hòa cũng có sách lược đối phó với mọi diễn biến, nhưng phải thay đổi hàng ngày để đáp ứng tình thế. Mới tuần trước đây, ngày 25 tháng Ba, các ngài dự trù thành lập một cứ điểm phòng thủ tại Đà Nẵng và một tuyến phòng thủ phía Nam dựa vào bờ biển Bình Định, nếu không thành thì cũng chỉ lui về Tuy Hòa thuộc tỉnh Phú Yên. Nhưng từ lúc khai triển kế hoạch này, Đà Nẵng đã bị thất thủ, những vị trí của Việt Nam cộng hòa thuộc vùng duyên hải Quân khu II phía bắc Cam Ranh cũng không còn. Vậy nên ta phải thành lập một tuyến phòng thủ mới. Tuyến phòng thủ dự trù này sẽ kéo dài qua các tỉnh Tuyên Đức và Lâm Đồng, nối tiếp với Long Khánh, qua đến Tây Ninh! Và…
Và gì? Viên khẽ hích Đặng Văn Quang, nhưng trung tướng an ninh không để ý, vì ông đang mải theo đuổi ý nghĩ riêng về phần việc của mình: trong quân lực, có sĩ quan nào làm tình báo cho cộng sản? Nếu tình hình trên chiến trường được cải thiện, nhất định ông phải cho rà lại đội ngũ sĩ quan, trong đó có đến hai ông đại tướng đều có bà con làm cộng sản, mà cộng sản cỡ bự! Thế nên Quang có nghe rõ Weyand nói gì đâu, ông nghiêng tai hỏi lại, nhưng Viên đã ngồi ngay ngắn, không thèm nói lại, chờ tổng thống phản ứng.
-Nha Trang thất thủ là do bọn chỉ huy quá tồi. Thêm vào đó là đám dân chúng tị nạn cộng sản kéo về quá lộn xộn, làm vướng chân, làm mất tinh thần binh lính. Đột nhiên giọng ông trùng xuống, bùi ngùi, hai mắt tổng thống chớp chớp liên hồi, ngấn lệ. Tôi chỉ đau lòng là không cứu được đồng bào, anh em của chúng tôi phải lâm vào cảnh đói khát, ly tán…
Đại sứ Martin, nhân vật dân sự duy nhất trong căn phòng này, vốn thạo nghề ngoại giao, đưa đẩy, thấy đúng tầm của mình vội lên tiếng:
-Xin tổng thống đừng quá lo lắng, nước Mỹ chúng tôi đã có sẵn một kế hoạch viện trợ nhân đạo, đối với những quân nhân và nhân viên dân sự gặp nạn… Tổng thống Hoa Kỳ đã dành sẵn những điều kiện vật chất cho họ. Hơn hai triệu dollars…
Nghe đến từ “dollar”, tổng thống nổi nóng thật sự:
-Thưa ông đại sứ, tôi xin được ngắt lời ông. Cái mà chúng tôi chờ đợi không phải là những đồng tiền hay cử chỉ nhân đạo. Cái cần cho chánh phủ và quân lực Việt Nam chúng tôi hiện nay là hành động, hành động thật sự, hoặc cũng là tiền, là dollar, nhưng là những đồng dollar có trách nhiệm. Tôi nói trách nhiệm ở đây là nói đến sự cam kết của Hoa Kỳ với một đồng minh, một người bạn đã sát cánh trên tuyến đầu chống cộng sản hàng mấy chục năm trời nay. Vấn đề cấp bách hiện nay là phải chặn đứng bước tiến của cộng sản Bắc Việt. Nếu Mỹ cứ ngồi khoanh tay nhìn cộng sản tiến công chúng tôi thì có khác nào là một cử chỉ cho phép chúng tự tung tự tác, hoành hành trên lãnh thổ của chúng tôi. Nếu Hoa Kỳ cứ tiếp tục cho phép cộng sản lấn tới, chiếm thêm đất, thêm thành phố của Việt Nam cộng hòa nữa thì chỉ ngày một, ngày hai, chúng sẽ thôn tính cả lãnh thổ Việt Nam cộng hòa này thôi! Nếu người Mỹ giữ đúng cam kết đứng bên cạnh chúng tôi thì đời nào cộng sản dám xé bỏ Hiệp định Ba Lê, dám đưa thêm binh lính, súng đạn, xe tăng đại pháo vào lãnh thổ chúng tôi?
Ngài đại sứ Martin im lặng thở, Cao Văn Viên không hiểu nhà ngoại giao cáo già này nghĩ gì khi nghe những lời lẽ nặng mùi lính tẩy của tổng thống Việt Nam? Chỉ thấy ông ta gục gặc đầu như thể không thèm nói chuyện với người không muốn nghe nữa. Nhưng Weyand thì khác, đại tướng ngưng uống rượu, nhìn vị tổng thống đang đỏ mặt vì tức giận:
-Xin lỗi tổng thống, thế cái chuyện quân đội các ngài xéo lên nhau bỏ chạy khỏi cao nguyên Trung phần, bỏ Huế, bỏ Đà Nẵng, bỏ quân khu I, rồi quân khu II, giao tất cả lại cho cộng sản, chắc không phải là chuyện người Mỹ cho phép?
Tổng thống thấy nói mãi mà hai người bạn đồng minh này có vẻ vẫn như chưa chịu hiểu ra, nên ông lại phải một lần nữa, nói toạc ra:
-Cái sự rút lui chiến thuật của chúng tôi chẳng qua cũng là do nghèo mà ra. Người Mỹ đã nghe theo lời dỗ dành ngon ngọt của Nga Sô, Trung Cộng mà giảm thiểu viện trợ quân sự cho Việt Nam. Giảm nhiều lắm, giảm tới hơn sáu mươi phần trăm rồi còn gì, cả binh lính và vũ khí. Hồi lính Mỹ ở Việt Nam lên đến nửa triệu, rồi xe tăng, đại bác, máy bay, cả B52… rồi hơn một triệu quân lính chúng tôi… mà vẫn không thắng nổi cộng sản, lại còn bị chúng tấn công ngược lại. Vậy mà bây giờ chúng tôi đâu còn gì, không có binh sĩ Mỹ, không B52… Thế mà tiền bạc viện trợ nay dọa cắt, mai dọa giảm. Hỏi nếu căng ra cho cộng sản nó mần thịt thì chịu được bao lâu? Mà tôi nói lại nghe, không phải là bỏ chạy mà chúng tôi rút lui có trật tự, nằm trong ý đồ chiến thuật…
Tổng thống ngưng lại uống cạn ly rượu mạnh. Không ai nói gì, tình hình có vẻ căng thẳng, khiến đại tướng Viên khó xử. Có vẻ như tổng thống Việt Nam cộng hòa đang giận dỗi người Mỹ. Vừa phải thì được, nếu căng quá, làm cho quan hệ giữa chính phủ, quân đội với hai người bạn này xấu đi thì khó có thể làm hòa được. Không thể coi như quân lực của chúng ta chiến đấu chống cộng thuê cho Hoa Kỳ được. Cần phải chặn lại cơn nóng giận của vị nguyên thủ quốc gia. Viên nhìn sang Đặng Văn Quang, vị trung tướng mập ú này vẫn ung dung ngửa cổ uống. Ông lắc đầu, phải làm cái gì đó để cho đại tướng Weyand và ngài đại sứ hiểu rõ và hành động trong phạm vi quyền lực của hai ngài và có lợi cho đại cuộc. Đại tướng, như thói quen quay sang người giúp việc cho mình, nhưng sực nhớ ra trong căn phòng này không có mặt trung tướng Khuyên, ông đành đến trước tấm bản đồ quân sự:
-Thưa tổng thống và các vị. Bộ tổng tham mưu quân lực Việt Nam, cụ thể là tôi đã làm việc trực tiếp với đại tướng Weyand và phái bộ của ngài. Chúng tôi cũng đã cùng nhau đi thị sát một số mặt trận ở Nha Trang, Bình Thuận, Ninh Hòa, Biên Hòa, Long Khánh… Nhưng như các vị đều đã rõ, khi đại tướng Weyand vừa rời khỏi Nha Trang thì thành phố này đã rơi vào tay cộng sản Bắc Việt. Tinh hình rất nguy ngập, có lẽ khi chúng ta đang ngồi đây, thì xe tăng của cộng quân đã tiến đến Phan Thiết, rồi Phan Rang…
Đại tướng ngừng lại, đưa mắt nhìn cử tọa. Không ai nói gì, Weyand và Martin thờ ơ nhìn bức tượng vũ nữ Chàm đen nhánh dưới ánh sáng ngọn đèn trang trí màu vàng gắt, còn tướng Đặng Văn Quang thỉnh thoảng lại ngước lên nhìn lén tổng thống đang rít thuốc lá. Một sự im lặng đến gai người. Thấy đã đến lúc trình bày được ý đồ của mình, Cao Văn Viên tiếp:
-Cho nên, thưa tổng thống, về căn bản, ý đồ chiến lược của ta trước đây sẽ không còn phù hợp nữa. Tức là phòng tuyến Nha Trang – Đà Lạt – Tây Ninh sẽ không còn giá trị, đúng hơn là không thực hiện được.
Tướng Viên lại ngừng nói, khiến tổng thống sốt ruột, phất tay:
-Nói tiếp đi!
-Bộ tổng tham mưu sau những phiên họp trù tính và thực tế chiến trường với phái đoàn của tướng Weyand và cơ quan tùy viên quốc phòng của tòa đại sứ Hoa Kỳ đã hoạch định một vòng đai phòng thủ mới, hầu bảo vệ thủ đô và những phần đất còn lại của lãnh thổ Việt Nam cộng hòa. Vòng đai này sẽ lấy Phan Rang, và dùng Ninh Chữ làm tiền đồn, để neo lại một vòng cung thép. Mặt khác ở Bắc và Tây Bắc, thì Tây Ninh và Bình Dương là hai tiền đồn bảo vệ vững chắc, ở đây có sư đoàn 23 của tướng Bá, và sư đoàn 5 của tướng Vỹ, là những sư đoàn mạnh của chúng ta…
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gật gù, thoáng nghĩ đến Ninh Chữ, nơi ông sinh ra, và nơi ấy hãy còn mồ mả cha ông của Ngài. Nhưng như chợt nhớ ra điều gì khiến tổng thống quay phắt lại, nói với đại tướng tổng tham mưu trưởng bằng một giọng phẫn nộ:
-Như vậy ta bỏ quân khu I và quân khu II à? Không được!
Viên vẫn từ tốn:
-Trên thực tế, quân khu I của Ngô Quang Trưởng không còn nữa. Quân khu II của tướng Phú chỉ còn Phan Thiết và Phan Rang. Hai tỉnh này sẽ được sáp nhập vào Quân khu III luôn để tiện việc chỉ huy, điều động. Những đơn vị của tướng Trưởng và tướng Phú sẽ được xốc lại, bổ sung quân số, trang bị lại vũ khí, quân dụng để bổ sung cho các mặt trận phòng thủ của hai quân khu còn lại.
Tổng thống ngẫm nghĩ một lúc, không thấy Cao Văn Viên nói gì, ông hỏi:
-Nếu trong trường hợp Phan Rang và cả Phan Thiết bị Cộng sản Bắc Việt lấy mất thì ông định thế nào?
-Thưa tổng thống, điều đó chúng tôi cũng đã nghĩ tới. Trong trường hợp hai tỉnh còn lại của quân khu II bị mất vào tay quân đội Bắc Việt, thì phòng tuyến cuối cùng của chúng ta là Xuân Lộc. Về mặt địa lý, Xuân Lộc và tỉnh Long Khánh là tiền đồn, chốt chặn con đường số Một từ ngoài Trung phần vào Nam, là nơi hiểm yếu án ngữ tuyến hành lang không cho quân cộng sản xâm nhập qua lại giữa vung Bình Giã, Bà Rịa, dưới biển với vùng núi rừng căn cứ chiến khu Đ của chúng.
Tổng thống đăm chiêu hồi lâu. Đành phải thế thôi, với lực lượng hiện nay, không có B52, không có binh lính Mỹ yểm trợ thì đội quân của ông đành phải chọn phương án phong thủ để chờ thời cơ. Mà thời cơ gì bây giờ? Thời cơ chính là hai ông bạn Mỹ đang ngồi đây. Weyand và Martin sẽ trình bày với tổng thống và quốc hội Mỹ những gì đã thấy để họ tỏ ra hào phóng, rót tiền, đưa vũ khí và B52 vào bây giờ? Muộn quá, muộn lắm rồi! Cảm giác thấy bị người Mỹ quay lưng lại với những cam kết ngày càng đè nặng lên vai một nguyên thủ quốc gia, khiến ông nghẹt thở. Viện trợ xin không được thì vay. Tổng thống đã phải dùng đến con bài “giếng dầu ở ngoài biển Đông” để làm con tin với người Mỹ, để họ cho vay cũng được. Nhưng, viên cố vấn của ông phái đi vẫn nằm lỳ tại một sòng bạc nào đó, bên Texas.
Vẫn lắng nghe, chợt ông hỏi tướng Viên:
-Lực lượng của ta ở đó thế nào:
-ở đây hiện nay chúng ta có lực lượng khá mạnh, chưa hề đụng với quân cộng sản, nên còn dồi dào sức chiến đấu. Đặc biệt ở Xuân Lộc ta đang có sư đoàn 18 của tướng Lê Minh Đảo, một sư đoàn thiện chiến bậc nhất hiện nay của quân lực Việt Nam!
Buồn bã, ngước mái đầu điểm bạc rất phong độ ở tuổi năm mươi hai, tổng thống nói với hai người bạn Mỹ:
-Hiện giờ chúng tôi còn một số tỉnh ở quân khu II, và toàn bộ quân khu III và quân khu IV. Những tướng lĩnh và binh lính của chúng tôi đều là những chiến sĩ kiên quyết chiến đấu chống cộng sản vì lý tưởng của thế giới tự do. Những sư đoàn tuy có bị tổn thất sau những ngày rút bỏ Cao nguyên Trung phần nhưng vẫn còn sĩ quan chỉ huy, vẫn còn tinh thần chiến đấu rất kiên quyết. Nếu có thêm viện trợ của người Mỹ lúc này, nhứt định chúng tôi sẽ giữ vững phần lãnh thổ còn lại trong đó có thủ đô Sài Gòn yêu quý của chúng tôi. Khi đã giữ vững được phần đất còn lại, bằng tinh thần chiến đấu của anh em chiến sĩ quân lực Việt Nam cộng hòa, cộng với vũ khí và B52 của Mỹ, nhất định chúng tôi sẽ đẩy lùi cộng sản và buộc chúng phải thi hành Hiệp định Ba Lê. Lúc đó chúng ta mới có thể nói đến hiệp thương, tổng tuyển cử, hay gì gì đó như người Mỹ muốn. Cho nên tôi mong chánh phủ và quốc hội Hoa Kỳ thật sáng suốt để nhận ra tình hình, thực trạng và nỗi khổ của Việt Nam hiện nay…
Tướng Weyand ngồi lim dim nghe những tràng thuyết trình khi hùng hồn, khi bi thương, lại cả những lời trách móc hờn dỗi của vị nguyên thủ Việt Nam cộng hòa đối với người Mỹ do ông đang đại diện. Ông muốn ngắt lời vị tổng thống lắm rồi, nên khi Nguyễn Văn Thiệu vừa ngưng, đại tướng đã nói ngay:
-Tổng thống và chính phủ chúng tôi hoàn toàn thông cảm với Việt Nam lúc này. Chúng tôi đang và sẽ cố gắng hết sức để thực hiện những cam kết của Hoa Kỳ với Việt Nam. Nhưng thông qua báo chí, và nhất là những gì tôi vừa được chứng kiến thì những cuuộc rút chạy ồ ạt vừa rồi của các ngài đã làm cho các vị nghị sĩ của chúng tôi không còn tin vào sức chiến đấu của quân đội các ngài nữa. (Đại tướng nhìn tướng Viên vừa về chỗ ngồi). ít nhất các ngài cũng phải đánh lấy một trận cho ra trò, rồi để báo chí họ thổi phồng lên thành một trận kiểu như Waterlo. Có như thế, quốc hội chúng tôi mới có thể xem xét việc mở két bạc. Đằng này quân đội của các ngài không chịu dừng bước trốn chạy, cứ nghe thấy tiếng xe tăng của Bắc Việt đã co giò rút chạy rồi thì chẳng có hy vọng nào với quốc hội, dù tôi, ông đại sứ đây hay cả Kitsinger và tổng thống Ford cũng đành bó tay. Đã mười năm, (Weyand giơ một ngón tay cái, rồi chĩa vào ngực mình) xin nhắc lại mười năm dính líu và hy sinh tính mạng binh sĩ Hoa Kỳ mà vẫn không có được một kết quả mong muốn. Quốc hội Hoa Kỳ sẽ không muốn nhúng tay sâu thêm vào một con tàu sắp đắm bởi những thủy thủ chỉ biết bỏ chạy…
Lần này thì trung tướng Đặng Văn Quang nghe rõ những lời của Fred Weyand. Quang vốn không ưa Weyand, vì đã có lần khi đang làm Tư lệnh quân đoàn IV, Weyand kinh lý xuống Cân Thơ, không biết lúc quay về Sài Gòn lão tướng mũi khoằm này nói gì, mà tổng thống đã “nhẹ nhàng điều động” tướng Quang về Sài Gòn, cho “ngồi chơi xơi nước”. Một động tác có khác gì là cách chức đối với một vị tư lệnh vùng Bốn, vốn là một xứ sở gạo trắng nước trong, lại an nhàn, không có những đơn vị chủ lực của cộng sản. Cũng may, giữa trung tướng với Tổng thống có mối quan hệ vừa là bằng hữu, lại vừa có những ân huệ. Khi làm tư lệnh quân đoàn Bốn, tướng Quang đã hết mình với tổng thống phu nhân, người đẹp Trần Thị Mai Anh, vốn quê ở Mỹ Tho, trong mọi trường hợp bà cần đến quân đội quốc gia. Vì thế, sau một thời gian quẩn quanh ở Bộ tổng tham mưu, trung tướng được bổ nhiệm giữ chức cố vấn an ninh của tổng thống. Từ đó, không ngờ lại là một bước tiến của Đặng Văn Quang. Văn phòng của tướng Quang đặt bên cạnh tổng thống trong Phủ Đầu Rồng. Lúc này, trung tướng mới có dịp mở các hồ sơ an ninh của nhiều chiến hữu. Ngoại trừ một số cán bộ, tướng lĩnh tham nhũng, hầu hết các chỉ huy quân đoàn, sư đoàn trong quân đội đều rất trung thành với tổng thống, với sự nghiệp chống cộng sản vì lý tưởng của thế giới tự do. Họ dám hy sinh, dám xả thân vì tổng thống, vì danh dự của quân lực. Mới chỉ có một cuộc rút lui chiến thuật tạm thời từ bỏ Cao nguyên Trung phần và một số tỉnh miền duyên hải mà người Mỹ đã vội vàng kết luận rằng quân lực Việt Nam cộng hòa là một đội quân “chỉ biết bỏ chạy” là xúc phạm. Quang thấy cần phải lên tiếng, và ông nói:
-Thưa ngài đại tướng, ngài nói như vậy là hơi quá, là xúc phạm đến một quân đội vốn có nhiều chiến tích chống bọn cộng sản xâm lăng vì thế giới tự do. Ngay cả ngài mà cũng không nhìn thấy sức mạnh tinh thần của quân đội chúng tôi, thì trên thế giới này còn ai dám tin vào họ nữa? Chẳng lẽ hơn hai mươi vạn cán binh cộng hòa hy sinh trong gần hai mươi năm qua chẳng là cái gì sao? Ai đã cứu quân Mỹ ở Pléime, thung lũng Ya Đrang, ở Bến Cát, Dầu Tiếng, Tây Ninh… những năm xưa? Ai? Nếu không phải những chiến sĩ cộng hòa Việt Nam gan vàng, dạ sắt…?
Nghe Quang nói vậy, Weyand tỏ ra ngạc nhiên, nhìn trung tướng chằm chặp, đôi môi mấp máy, định đính chính một câu gì đó, nhưng tổng thống đã gạt đi, ông nói bằng tiếng Việt:
-Thôi Quang! Anh đừng nói nữa, để họ tự nghĩ!
Rồi ông quay sang nhìn hai người bạn Mỹ:
-Không! Không có chuyện rút lui nữa! Trong đệ nhị thế chiến, Staline đã nói thế này: “Các đồng chí! Sau lưng chúng ta là Moscow!”. Tuy không ưa chủ nghĩa cộng sản nhưng tôi ngưỡng mộ Staline, nhà độc tài Nga Xô, mà nói rằng: “Hỡi anh em binh sĩ! Sau lưng chúng ta là Sài Gòn!”. Còn trận chiến thắng như các ngài mong muốn, nó sẽ xảy ra! ở đâu thì chưa nói ngay được, có thể là Phan Rang, Phan Thiết, hay Xuân Lộc! Tôi xin nhắc lại: quân lực Việt Nam cộng hòa, và cá nhân tôi quyết tâm bảo vệ đến cùng phần lãnh thổ còn lại. Tuy nhiên muốn ngăn chặn hữu hiệu bọn cộng sản Bắc Việt, việc cấp thời là phải trang bị vũ khí thật mạnh, thật hùng hậu cho binh sĩ. Đồng thời phải nâng cao tinh thần binh sĩ, gây lòng tin cho họ và cho dân chúng thủ đô và những vùng lãnh thổ đang trong tay chánh phủ. Chúng tôi hy vọng và đặt hết niềm tin vào Hoa Kỳ và khẩn khoản đề nghị các ngài hãy cho B52 ném bom vào đội hình quân cộng sản!
-Được! Rất tốt! Chúng tôi hy vọng là quyết tâm của tổng thống và các tướng lĩnh Việt Nam sẽ thành hiện thực. Chỉ có điều, tổng thống yêu cầu B52 lúc này là đã muộn! Bất cứ một hành động can thiệp trực tiếp nào vào Việt Nam lúc này, tổng thống và quốc hội chúng tôi đều phải cân nhắc hết sức thận trọng…
Tổng thống bỗng đứng dậy, đi về phía bản đồ hành quân, nói với Cao Văn Viên nãy giờ như người ngoài cuộc:
-Anh có thể nhắc lại một lần nữa về tuyến phòng thủ?
Đại tướng Cao Văn Viên vội cúi xuống cầm chiếc gậy ba-tấc-tám của mình chỉ lên bản đồ:
-Đây là Xuân Lộc, thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Long Khánh. Chúng tôi, là tôi và đại tướng Weyand cho rằng, nếu có một trận chiến thắng oanh liệt thì chính nó phải nổ ra ở chỗ này.
-Ông đại tướng Weyand nói thế nào?
-Tất cả bản tường trình và kế hoạch lập phòng tuyến đã có ở chỗ tướng Quang!
Tổng thống nhìn Đặng Văn Quang, hất hàm. Quang lắp bắp:
-Trình tổng thống, tôi mới nhận được hồi chiều qua, chưa kịp chuyển cho đại tá chánh võ phòng.
-Được rồi. Nhưng tên nó là gì?
-Dạ, trình tổng thống, đó là bản kế hoạch mang tên “Phòng tuyến Weyand”.
Tổng thống nhìn Weyand, thấy ông ta hơi mỉm cười:
-Thưa tổng thống! Bản kế hoạch do phái đoàn chúng tôi thảo ra đã được tướng Viên và các phụ tá của ông tán thành. Còn việc đặt tên nó là gì thì do tướng Viên nghĩ ra…
-Ngài đã ra Xuân Lộc chưa?
-Rồi! Tôi đã gặp tướng Đảo và bộ chỉ huy của anh ta!
-Ông thấy Đảo thế nào?
Weyand không nói ngay, mà tranh thủ châm một điếu thuốc, thả khói mịt mù, rồi mới thong thả:
-Ngay từ khi tôi còn giữ chức trưởng đoàn cố vấn Hoa Kỳ tại Việt Nam, lúc ấy chúng ta đã bàn đến một chương trình đào tạo các tướng trẻ thế hệ thứ hai nhằm phục vụ cho cuộc chiến trong tương lai. Đến bây giờ, tôi cho là chương trình đó đã có kết quả. Lê Minh Đảo là một trong những viên tướng đó. Lòng nhiệt thành với chiến tranh, có hiểu biết tầm cỡ chiến lược và, xin lỗi hai tướng quân có mặt tại gian phòng này, họ rất Mỹ, Mỹ hơn các ngài, và… Mỹ hơn cả Mỹ…
Tổng thống cười, nhìn Weyand rồi lại nhìn Đặng Văn Quang:
-Tôi có nghe an ninh quân đội báo cáo. Thằng Đảo nó chửi người Mỹ là hèn, là xấu chơi, đem con bỏ chợ chứ gì? Nhưng hắn là một tay chống cộng sản cừ khôi đấy!
Weyand cũng cười:
-Thưa tổng thống, rất đúng! Tôi tin tưởng vào Lê Minh Đảo và sư đoàn 18 của anh ta!
Tiễn khách về, còn ba người Việt Nam. Tướng Viên và tướng Quang đứng ngây ra nhìn tổng thống đang ôm đầu, rồi lại nhìn nhau. Bỗng tổng thống ngẩng lên, hai con mắt đỏ lừ, rực sáng:
-Hai anh bố trí cho tôi ra Xuân Lộc gặp Lê Minh Đảo. Kêu cả tướng Nguyễn Văn Toàn nữa…
-Dạ thưa… khi nào ạ?
Tổng thống còn đang cân nhắc thì Viên xen vào:
-Có thể ra ngoài ấy vào khuya nay, lúc mười một, mười hai giờ.
-ừ, được! Anh bố trí lực lượng bảo vệ, nghi binh. Còn Quang lo an ninh. Cứ chuẩn bị sẵn, khi nào đi tôi báo.
Đặng Văn Quang hỏi thêm:
-Có cho báo chí đi theo không?
-Cho! Tổng thống dứt khoát. Nhưng phải tuyển lựa. Có lẽ cho Việt Tấn xã, báo Tiền Tuyến và Đài phát thanh, Đài truyền hình, thế thôi… Hả?

CHƯƠNG BỐN

Ngày 31-3-1975.
Lộc Ninh. Bốn giờ sáng!
Đoàn xe com măng ca gồm năm chiếc từ từ rời khỏi cánh rừng già còn sót lại sau những trận bom rải thảm, những đợt khai quang hóa học của Mỹ. Ra khỏi cánh rừng đoàn xe giãn đội hình, cách nhau khoảng trên hai trăm thước, nhằm hướng thị trấn Lộc Ninh. Đây là thủ đô của Giải phóng, của chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Trời vẫn còn mờ tối, nhưng qua ánh sáng của sao trời mùa khô, những lùm cây, bóng lá, những thảm rừng cao su đen thẫm vun vút qua, gió rừng trộn bụi đỏ tạt vào rát mặt, nhưng mọi người vẫn nhận ra từng vị trí, từng xóm ấp thân thuộc. Chếch về phía bên trái là sân bay Lộc Ninh, mà dễ dàng nhận ra những nòng pháo cao xạ nghếch lên trời đen thẳm đầy cảnh giác.
Một quãng ngắn nữa, đoàn xe chạy vào thị trấn, mọi người không ai bảo ai, đều hướng về bên trái, nơi có ngôi nhà sàn bằng gỗ, rất đồ sộ được các chiến sĩ công binh dựng lên làm nơi tiếp khách. Cán bộ, chiến sĩ vùng giải phóng Lộc Ninh thường gọi là “Nhà đỏ”, bởi mái tôn của nó được sơn màu đỏ rực. Còn thân mật hơn, mọi người gọi đấy là “ngôi nhà cao cẳng”, bởi nó là ngôi nhà sàn, cao lênh khênh, tựa lưng vào sườn đồi.
Nhưng khi đoàn xe chạy quá lên một chút hướng về Lộc Tấn, mọi người nhận ra những đoàn xe tải phủ bạt kín mít đang nằm nép mình vào rừng cao su. Đó là xe hậu cần chuyên chở vũ khí, thuốc men, quân nhu… từ miền Bắc chạy thẳng một mạch vào tận đây. Có lẽ, các chiến sĩ lái xe đã thấm mệt, họ mắc võng nằm xung quanh, dưới gầm xe. Một người ngồi trên “tai” một chiếc xe ZIL-130 tay lăm lăm cầm AK cảnh giới. Thấy đoàn xe con đi qua, anh ta chỉ hơi nheo mắt, rồi lại thản nhiên nhìn vào đêm tối, đầy cảnh giác. Cứ khoảng bốn năm xe lại thấy có một người lính canh gác như thế.
Ngồi trên chiếc GAZ-69 kiểu “đít tròn” chạy thứ ba là thượng tướng Trần Văn Trà, vị chỉ huy quân sự cao nhất của chiến trường B2. Bên cạnh ông là trung tá trợ lý tham mưu Nguyễn Văn Minh. Thượng tướng nói nhỏ:
-Xe vô nhiều thế này, chắc hậu cần không kịp bố trí tiếp nhận! Rồi ông quay sang Minh. Cậu xuống hỏi xem đoàn nào mà chủ quan thế?
Chiếc xe con dừng lại, Minh nhảy xuống, đến gần một người gác, lên tiếng trước:
-Đồng chí cho hỏi?
Người lính canh gác vẫn hướng mũi súng về phía Minh, nhưng tướng Trà nhận thấy đầu súng đã chúi xuống.
-Ông “cốp” nào đi đâu sớm thế? Anh lính nói giọng Bắc.
-Bọn mình đi kiểm tra. Này, các đồng chí ở đoàn nào thế?
-Đoàn nào? Quân giải phóng chứ còn đoàn nào! Mà ông hỏi làm gì?
-Chỉ huy của các đồng chí đâu?
Người lính gác nghe chừng dịu lại, giọng rất tỉnh:
-Báo cáo thủ trưởng! Chả có ai ra đón cả. Bọn em chạy từ Thanh Hóa vào đến đây, cứ gần sáng là ngủ, chiều tối lại chạy… Vào đến đây rồi, thì thủ trưởng của bọn em bảo cứ tranh thủ ngủ đi, lúc nào có người tiếp nhận thì chạy…
-Sao không đánh xe vào bãi? Để thế này, sáng ra máy bay nó lên thì làm sao?
-Ối giời! Có bố thằng Mỹ cũng chả còn máy bay nữa là thằng ngụy! Bọn em chạy từ ngoài Bắc vào, chả thấy có gì cả, cứ băng băng… À thủ trưởng ơi, đây là đâu thế ạ?
Minh phì cười:
-Vùng giải phóng chứ ở đâu nữa! Các cậu chủ quan thế là không được, càng gần đến ngày thất bại thằng địch càng hung hăng.
-Vâng! Ngày nào em cũng nghe chính trị viên nói thế rồi ạ! Ta phải nâng cao cảnh giác…
-Xe chở gì thế?
-Không biết! Mà có biết bố em cũng chả nói! Nhưng mà… đã gần đến Sài Gòn chưa? Thèm ngủ quá rồi thủ trưởng ạ!
-Sắp rồi! Trung tá Minh cười nhưng anh bỗng cảm thấy nghẹn ngào. Cố lên nhé! Vào Sài Gòn cho các cậu ngủ mấy ngày…
Nói xong Minh quay trở lại xe, anh vẫn còn nghe tiếng ai đó u ơ nói mơ dưới võng. Và anh chàng lính gác nói vọng theo:
-Thủ trưởng đi lên quãng nữa, tụi nó còn đỗ ngay ngoài đường ấy chứ…
Tướng Trà đã nghe thấy hết mẩu đối thoại. Để cho Minh lên, xe chạy ông nói:
-Hơn ba mươi năm chiến đấu, chưa bao giờ mình thấy vui như những ngày này. Nhưng trước mắt còn nhiều khó khăn lắm… Minh này, đã điện báo hết cho các đồng chí bên ấy chưa?
-Báo cáo anh, đã báo toàn bộ rồi ạ! Các anh ấy cũng đã phúc đáp nhận lệnh. À, kỳ này có anh Trần Văn Trân, làm tư lệnh 341, anh Tư gặp anh Trân lần nào chưa?
-Chưa gặp. Nhưng hồi còn ở Ban liên hiệp bốn bên trong Tân Sơn Nhất, mình có được báo cáo về ông này. Cũng là một tay cừ đấy…
-Nghe nói anh Trân bị địch bắt…?
-Đúng! Ông ấy bị bắt làm tù binh, nhưng ngụy trang rất khéo, chỉ nhận làm y tá, nên thằng địch không biết đấy là một tư lệnh sư đoàn. Khi ở Ban liên hiệp, mình được báo là có một sư đoàn trưởng đang bị giam ở Phú Quốc, tên là… Phú, hay là gì đó mình quên mất rồi, hà hà…! Tên ông ấy khai tầm bậy mà. Mình bảo anh em theo dõi sát để làm sao đưa được đồng chí ấy ra càng sớm càng tốt. Nhưng mà thằng địch cũng ghê lắm nhé, nó thấy mất dấu Trần Văn Trân, hỏi nhau í ới. Thế là quân ủy trung ương báo tin đồng chí sư trưởng Trần Văn Trân hy sinh, cho đưa vợ và con gái ông ấy từ Quảng Bình ra Hà Nội làm lễ truy điệu. Báo chí có đăng tin buồn và kể công trạng lớn lắm. Hai mẹ con bà ấy cũng tưởng ông ấy hy sinh thật…
Có một điều mà lúc đó thượng tướng chưa biết, đó là việc bảo vệ “hạnh phúc” cho sư đoàn trưởng. Lo lắng về việc “chị Trân” góa bụa không giữ được lòng mình. Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ đã tìm gặp cô con gái sư đoàn trưởng – cháu Thủy – động viên, dặn dò. Người cán bộ phụ nữ đã nói với cô bé:
-Cháu cố gắng động viên mẹ, đừng vội vã mà nghĩ suy nông cạn. Với chiến tranh mọi thứ đều có thể xảy ra. Chuyện sống chết cũng chả biết thế nào… Có khi nhầm lẫn cũng nên!
“Chị Trân” nghe con gái nói, vừa giận những bà cán bộ chủ quan, hẹp hòi vừa ngờ ngợ nhận ra sự “hy sinh” của chồng.
-… Đến khi mình xem danh sách trao trả thấy có ông Trân, báo ra cho ta chuẩn bị đón. Lúc đầu, định tổ chức đón ở Lộc Ninh, nào ngờ tụi nó chở máy bay đưa ông ấy ra Quảng Trị. Ta cũng biết rồi nên đưa com-măng-ca vào đón… Lúc bấy giờ địch mới biết là thả mất một cán bộ cao cấp Việt Cộng…
Minh cười:
-Chắc tụi nó tiếc lắm nhỉ?
-Tiếc quá đi chứ! À thế giờ “Anh Trân” chính là sư 341 đấy hả? Sang bên ấy, gặp được nhau kể chuyện này, chắc vui lắm đấy! Thượng tướng cười vui. Minh nói nhỏ:
-Ông Trân này cũng mạnh ha anh Tư? Bị địch bắt rồi mà quay về vẫn được giao giữ chức tư lệnh như cũ?…
Thượng tướng im lặng, mắt vẫn nhìn về phía trước. Ông hiểu ý Minh, nhưng bây giờ chưa phải lúc bàn luận về vấn đề này. Ai trung thành, ai phản bội, ai đáng ngờ… là việc của người khác. Những người như ông, như Trần Văn Trân, hễ còn được sống, còn cống hiến, còn đánh giặc. Vàng thau qua lửa sẽ biết ngay thôi… Thỉnh thoảng chiếc com-măng-ca đít tròn lại lạng lách. Đường cấp phối khá tốt, nhưng thỉnh thoảng lại phải tránh xe của ta đi ngược chiều vào.
Trời dần sáng rõ, đoàn xe cũng rời con lộ lớn, rẽ vào nhánh đường nhỏ, che kín bởi những tán cây rừng chồi tái sinh và đặc biệt, nó luồn lách dưới những lùm le kín mít. Thượng tướng bỗng ngân nga nhớ tới câu thơ: Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù! Không gì che bộ đội hào phóng và tận tình chung thủy bằng rừng le! Những cây le, một loại tre thân nhỏ, dẻo dai bện lấy nhau như những tấm lưới xanh ngút ngát. Chúng bền vững và thủy chung, đến nỗi ngay cả những chiếc máy bay trực thăng cá rô (HU-1A) quần thảo bằng sức gió cánh quạt của chúng, có thể thổi bay mái nhà, nhổ tung cây cỏ… nhưng không làm gì được rừng le. Có khi cả đội quân núp dưới đó mà máy bay trên đầu độ mươi thước, vẫn không phát hiện ra bộ đội! Bền bỉ dẻo dai là thế, nhưng cây le còn hào phóng với con người. Mùa mưa đến, trú quân trong rừng le, măng le là nguồn thực phẩm dồi dào bậc nhất của anh giải phóng quân… Măng le luộc chấm muối, măng chua, măng khô… thứ nào cũng nuôi sống con người. Cây le không bao giờ rụng lá, kể cả mùa khô khi cây rừng, như cây khộp, cả cây cao su trút lá thay màu, thì rừng le vẫn một màu xanh chung thủy. Mai này, đất nước hòa bình, non sông thống nhất, các nhà sử học, các nhà văn, nghệ sĩ… sẽ ghi công trạng những con người, vùng đất, sông suối, cỏ cây… xin đừng quên cây le miền Đông Nam bộ!
Một phút thảnh thơi trong đầu chỉ như thoáng qua, khi đoàn xe chuẩn bị vượt sông Sài Gòn. Tiếng pháo bầy của địch từ Hóc Bà Thức, Cây Gáo… bắn vu vơ vào rừng, làm thượng tướng cau mày, trở lại với thực tế chiến trường. Đoàn xe từ từ chạy chậm lại, từ chiếc xe chạy trước, một đồng chí cán bộ quân báo đến bên xe của tướng Trà:
-Báo cáo thủ trưởng, xe chuẩn bị qua ngầm!
Thượng tướng nhảy ra khỏi xe. Nhìn dáng đi nhanh nhẹn và chắc chắn của vị tướng, ít ai nghĩ ông đã có ba mươi năm xông pha trận mạc, mà chủ yếu là sống với rừng xanh, núi thẫm. Gian khổ, thiếu thốn, ác liệt và chế ngự tình cảm gia đình… tưởng như không sao kể hết đã không quật được ông, mà còn rèn luyện ông trở nên con người thép cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng…
Ông xắn quần lội qua sông. Đây, dòng sông này mang tên thành phố lớn mà cái đích của ông và của tất cả cán bộ, chiến sĩ đang hướng tới. Chỉ cần thả mình trôi theo dòng nước trong xanh này là ta có thể về đến thành phố tuổi thơ ông đã sống… Nhưng bây giờ thì chưa được! Còn đồn bốt quân thù, còn chông gai cản ngại. Phải về! Phải về với thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng! Phải về bằng đoàn quân chiến thắng, dù đã ba mươi năm, ông ra đi với giáo tre, nóp bàng! Thượng tướng vin một cánh hoa bằng lăng tím ngát rủ xuống là là mặt nước đưa lên ngang mắt, nhìn đắm đuối rồi nhẹ nhàng thả xuống dòng nước với lời thầm nhủ: “Cánh hoa này hãy trôi về thành phố, với bao niềm nhớ thương gởi gắm của ta!”. Cánh hoa từ từ trôi, như còn muốn nán lại, bịn rịn… Đi đi! Về trước đi! Rồi chỉ một ngày gần đây thôi, gần lắm rồi… ta sẽ cùng về! Hãy nhắn nhủ với đồng bào trong đó…!
Trung tá Minh nhìn thượng tướng rồi anh cũng lặng lẽ làm theo. Nhân, một cán bộ quân báo mới bổ sung từ miền Bắc vào, thấy thế hỏi thượng tướng:
-Thủ trưởng ơi! Đây là sông Sài Gòn phải không ạ?
-Đúng đấy! Cậu có thấy ở đây nó nhỏ thế này, nhưng chỉ vài chục cây số, về đến Củ Chi, Bến Súc, Bình Dương… là nó mở rộng ra… cuồn cuộn đổ vào bao quanh thành phố Sài Gòn…
Nhân xúc động, bắt chước thủ trưởng của mình, anh hái một bó hoa bằng lăng thật to, thật nhiều thả xuống…
Những chiến sĩ công binh lặng lẽ đứng nhìn đoàn cán bộ qua sông. Họ không biết đấy là vị thượng tướng, người chỉ huy và chịu trách nhiệm cao nhất về quân sự của Nam bộ thành đồng! Khi đoàn xe đã qua sông, những người lính cầu phà còn giơ mũ vẫy chào với một tình cảm kính trọng. Họ biết, một cái gì đó mới mẻ, oanh liệt sắp xảy ra trên mảnh đất dưới chân mình.

***

Đoàn xe luồn lách êm ái trong con đường dã chiến dưới rừng le còn lại lốm đốm hình da báo của chiến khu Đ. Từ cửa xe dễ dàng nhận thấy những thân cây chết đứng như những cây nhang, cây nến cắm chi chít trong rừng: hậu quả ghê gớm của chất khai quang màu da cam của Mỹ mấy năm trước. Những thân cây trắng toát, trơ trọi xếp hàng hiên ngang, tang tóc. Ai bảo cây ngay không sợ chết đứng! Trong bao nhiêu những điều phi lý mà cuộc chiến tranh này mang lại, thì câu cách ngôn này đã bị sai lệch. Nhưng qua đó, lại chứng tỏ một phương châm sống khác rất không bình thường của những con người bình thường. Sống hiên ngang và chết cũng hiên ngang! Bên dưới những hàng cây ngay mà chết đứng kia, một thế hệ rừng tái sinh lại đang bắt đầu trỗi dậy. Trong tiếng ve ong óng mù khô, hòa vào tiếng máy xe nổ giòn, thượng tướng ngả lưng trên thành ghế xe, lim dim nghĩ ngợi.
Hình như suốt cả quãng đời đã sống, thượng tướng không hề lúc nào được nghỉ ngơi yên tĩnh, dù chỉ trong ý nghĩ. Được phong quân hàm cấp tướng với chức vụ tổng tham mưu phó khi mới ngoài ba mươi tuổi, ông đã sớm nhận những trọng trách tưởng như quá với sức vóc và độ tuổi của mình. Và ông đã phải sớm nghĩ suy những điều to lớn, vận mệnh của cả một đội quân nhân dân, gắn liền với vận mệnh dân tộc.
Khi nhiệm vụ đấu tranh giải phóng miền Nam được Đảng và Bác xác định, ông lại là một trong những người đầu tiên gánh vác nhiệm vụ xây dựng và tổ chức chiến đấu cho một đội quân, nghèo về trang bị, nhưng giàu lòng dũng cảm. Ngày lên đường, trở lại miền Nam khi ông đang giữ chức chánh án tòa án quân sự trung ương (tối cao), Bác Hồ, người Cha thân yêu của quân đội đã cho gọi ông đến. Bác không đả động đến nhiệm vụ của ông, mà chỉ ân cần như người Cha dặn đứa con lên đường trả nghĩa:
-Chú là một tướng trẻ, chú phải biết thương yêu anh em cấp dưới, nhưng chú lúc nào cũng phải nhớ câu “quân lệnh như sơn”. Đối với một ông tướng cộng sản không thể giống ông tướng phong kiến hay tướng tư sản. Quân đội ta là quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, lính nhân dân mà tướng cũng tướng nhân dân…
Rồi Bác cười, nói chuyện vui, nhưng luôn hướng câu chuyện vào người ra đi. Khi câu chuyện dặn dò đã xong, trung tướng Trần Văn Trà không thể nào ngờ được khi Bác cho người mang đến một thanh kiếm! Bác Hồ đứng dậy long trọng trao thanh bảo kiếm cho trung tướng (quân hàm của ông lúc bấy giờ):
-Bác trao chú thanh kiếm này, để về Nam kháng chiến. Đây không phải là gươm lệnh, nhưng là tấm lòng của Bác đối với miền Nam, đối với quân đội và cá nhân chú. Chú trung tướng này, chú nhớ giữ gìn cẩn thận, thỉnh thoảng mang ra mài cho thật sắc, đi vài đường kiếm thuật cho thật dẻo dai, linh hoạt! Thấy gươm như thấy Bác Hồ…! Thôi, chú về chuẩn bị lên đường, chân cứng đá mềm, nhớ đem tin thắng trận gửi về cho Bác và Trung ương…
Bác Hồ đã ôm hôn trung tướng. Tướng quân không bao giờ rơi nước mắt, nhưng với tình cảm của Bác, ông nghẹn ngào:
-Con xin hứa với Bác: dù có phải hy sinh, chúng con cũng quyết tâm giải phóng miền Nam để không phụ lòng Bác! Thưa Bác, con đi đây!
Cũng như bao tướng lĩnh, cán bộ, chiến sĩ và đồng bào, thượng tướng đã không kịp dâng lên Người chiến thắng! Người đã về cõi vĩnh hằng đúng vào ngày quốc khánh cách nay đã sáu năm! Ngày quốc tang, trung tướng đem thanh gươm của Bác ra mài thật sắc và múa những đường gươm nén chặt đau thương giữa rừng già Nam bộ mà hét lên: “Hỡi quân thù! Hãy nhìn những đường gươm này! Đừng hy vọng gì ở cái chết của Bác Hồ chúng ta! Người ra đi nhưng con cháu người sẽ càng nén đau thương thành hành động, quyết tâm thu phục giang sơn về một mối!”.
Tự dưng thượng tướng nghẹn ngào nhớ đến Lưu Hữu Phước, một người bạn của ông. Ông thầm khen nhạc sĩ, người sáng tác ra bài hát thần kỳ này. Người nhạc sĩ tài ba ấy đã nghe câu chuyện về thanh gươm Bác Hồ trao cho tướng Trà, rồi viết thành câu hát… Thượng tướng muốn cùng anh em hát vang bài ca “Giải phóng miền Nam”:
Cầm gươm ôm súng xông tới!
Vận nước đã đến rồi!
Bình minh chiếu khắp nơi…
Đúng, vận nước đang đến gần, rất gần, chỉ còn tính bằng tháng, thậm chí bằng ngày, chứ không phải bằng năm… ánh bình minh của chiến thắng đã ửng lên ở chân trời… Vậy là chỉ còn một bước ngắn nữa thôi, nhưng lại là bước quan trọng nhất, bước quyết định vào từng đường đi, nước bước, từng sợi tơ, chân tóc bằng những quyết định của người chỉ huy chiến trường! Mỗi một quyết định lệch lạc không những không đem lại thắng lợi cho toàn cục mà còn hy sinh không cần thiết tính mạng của bao cán bộ, chiến sĩ, đồng bào. Vậy mà ông phải ra một quyết định quan trọng vào lúc này!
Đánh Xuân Lộc!
Đây là ý đồ và quyết tâm của thượng tướng. Khi quyết định mở ra trận này, ông đã nhiều đêm trăn trở. Gần như một mình ông phải chịu trách nhiệm về quyết định này!
Tình hình phát triển quá nhanh, thời cơ xuất hiện quá bất ngờ! Không quyết tâm vào lúc thời cơ đã xuất hiện, thì chẳng bao giờ còn có thể làm lại được nữa. Chỉ sau vài giờ đồng hồ, quyết định của anh có thể được kiểm chứng: hoặc đúng đắn, hoặc sai sót. Một vị thượng tướng như ông, không chỉ chịu trách nhiệm với vận mệnh chiến trường, với dân tộc mà còn liên quan đến máu xương của hàng vạn chiến sĩ… Nhất tướng công thành… Không! Ông không làm gì cho ông, dù ông đang là một bậc thượng tướng quân! Trần Văn Trà lắc đầu xua đi ý nghĩ ảm đạm vừa chợt xuất hiện.
Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã bị thua đau, nguy cơ sụp đổ và thất bại đang treo lơ lửng trên đầu họ! Điều đó, tất cả mọi người đều cảm thấy. Nhưng với một nhà quân sự chuyên nghiệp như ông, làm sao chỉ thấy những gì bộc lộ ra bên ngoài? Tổng tham mưu trưởng lục quân Mỹ đã trở lại Việt Nam. Ông ta muốn gì? Ông ta đem đến những gì cho một đội quân đông hơn một triệu người, được trang bị không đến nỗi tồi, nếu có kém thì cũng chỉ kém hơn so với hồi Mỹ còn ở Việt Nam? “Phòng tuyến Weyand” đã được hình thành mà mắt xích quan trong nhất của nó là Xuân Lộc. Phải đánh Xuân Lộc, dù rằng phải huy động đến tất cả những người lính hiện có!
Ông nhớ đến thiếu tướng Hoàng Cầm, người tư lệnh quân đoàn Bốn, một quân đoàn được thành lập hơn nửa năm nay. Lát nữa gặp nhau ông sẽ là người ra lệnh cho Hoàng Cầm phải tiến đánh Xuân Lộc!
-Đánh Xuân Lộc, một trận đánh vào lúc này đã muộn, địch đã kéo về co cụm lại thành một cứ điểm vững chắc nhất để bảo vệ thủ đô Sài Gòn của chúng! Hoàng Cầm đã nói như thế với thượng tướng.
Nhưng nếu không đánh Xuân Lộc, thì phòng tuyến Phan Rang – Long Khánh – Tây Ninh còn đó! Làm sao để những quân đoàn lớn từ miền Bắc kéo vào Sài Gòn được? Ông lập luận như thế, bởi vì chiến trường chủ yếu của miền Nam là B2, là miền Đông Nam bộ. Nhiệm vụ của chiến trường này là phải đánh và chiếm được Sài Gòn, đầu não của kẻ thù! Vậy mà toàn chiến trường, nếu không tính thị xã Phước Long, chưa có một trận đánh thối động vào đội quân hùng hậu kia, rồi sẽ ăn nói ra sao với nhân dân B2, với lịch sử?
Đánh Xuân Lộc không chỉ đánh tiêu diệt hay làm tan rã kẻ địch, mà còn là một trận có tầm cỡ thế giới để đập tan ý chí của kẻ địch, đồng thời làm tiêu tan ý đồ phục hồi quân đội Sài Gòn của những người cầm đầu nước Mỹ vẫn chưa nguôi mộng “Việt Nam hóa chiến tranh”.
Cách đây gần hai mươi ngày, khi sư đoàn 7 nằm trong đội hình quân đoàn 4, đang tiến sang đường 20, thuận đà truy đuổi quân địch, thì Hoàng Cầm đã đề nghị ông cho đánh Xuân Lộc. Nhưng ông nghĩ: nhiệm vụ tác chiến của Quân đoàn Bốn, cũng như của toàn miền là “giải phóng dân, giải phóng đất”, mở đường cho tuyến hành lang vận tải từ Tây Nguyên xuống, tăng viện cho miền Đông Nam bộ. Đánh Xuân Lộc lúc đó là chưa cần thiết. Hơn nữa, kẻ địch cũng chưa có ý đồ lập phòng tuyến Weyand! Ông đã giải thích cho Hoàng Cầm như thế… Vả lại, lực lượng của ta cũng còn rất mỏng. Quân đoàn Bốn “vẫn què quặt, quá yếu, yếu nhất trong tất cả các quân đoàn. Thế mà nó lại là chủ lực của chiến trường chủ yếu?”. Đây là lời của đại tá tham mưu trưởng Miền đã nhận định.
Trong lúc đang diễn biến chiến tranh, không đánh giá đúng vai trò của từng chiến trường, từng chiến dịch, thậm chí từng trận đánh, sẽ dẫn đến sai lầm trong tổ chức, bố trí lực lượng, trong chủ trương về chiến lược, chiến dịch, chiến đấu và tất nhiên ảnh hưởng đến thắng hay bại. Trong cuộc chiến tranh đánh Mỹ này, và trong cuộc đời chỉ huy chiến trận của ông, không phải không có những trường hợp sai lầm. Nhưng nhờ vào sự lãnh đạo sáng suốt, dân chủ và tập trung của Đảng mà thượng tướng cùng tập thể đã kịp thời sửa chữa, khắc phục những sai lầm đó. Mỗi thành bại của cách mạng trong từng giai đoạn đều là thành bại của ý chí và hành động của hàng triệu con người. Chớ có bao giờ bại là do anh mà thành là do tôi!
Ở mỗi giai đoạn cách mạng, mỗi khúc quanh của lịch sử, chủ trương và hành động đúng cũng đều là kết quả của tư duy, của nhận thức tập thể, của bao nhiêu khối óc, con tim cộng lại… Không một người nào luôn luôn đúng, cũng không một người nào luôn luôn sai! Ngay cả tập thể nữa, không phải lúc nào cũng đúng hết!

***

Trời đã ngả sang trưa, nắng hanh vàng lóa sau rặng cây dầu trút lá hòa vào tiếng ve sầu kêu ran rình, muốn át cả tiếng xe hơi đơn điệu. Thỉnh thoảng, hai bên đường, hiện ra vài ba anh chiến sĩ. Họ đang bảo dưỡng và bảo vệ cung đường. Nhìn dáng đứng lặng lẽ, khiêm nhường và đầy vẻ chịu đựng của những người lính, thượng tướng Trần Văn Trà thấy lòng nao nao một niềm tự hào về cuộc đời và sự nghiệp chiến binh giải phóng của mình… Trong cái lắc lư đều đều của đường rừng, thấp thoáng mai vàng cuối xuân và hương rừng ngào ngạt, thượng tướng nhẩm trong đầu mấy câu thơ chợt đến:
Mai vàng rực nẻo hành quân
Gió ngàn nổ rộ súng xuân vây thành
Xưa, nay vẫn núi sông mình
Rạng tài Nguyễn Huệ, thắm tình Ngọc Hân…
Đến một đoạn rừng còn xanh tốt, phủ đầy bóng mát, thậm chí còn có vẻ thâm u, từ ghế trước, Minh quay lại với thượng tướng:
-Thưa anh Tư, khúc này khá yên tĩnh, có thể dừng lại ăn trưa được không, anh?
Tướng Trà như choàng tỉnh sau những ý nghĩ miên man:
-Được! Nhưng ta kiếm chỗ nào có con suối, rửa chân tay cái chớ! Đường bụi quá, mặt mũi anh nào cũng như vẽ tuồng hát bội cả rồi!
Chiếc xe như một con nhím nhỏ, lách vào một nhánh đường tuyến lát những bó cây bổi đã bắt đầu mục rã, chạy chậm lại, lắc lư như đang rũ bụi. Người chiến sĩ lái xe nhìn sang Minh, như dò hỏi. Trung tá trợ lý tác chiến ra hiệu cho xe dừng lại, rồi nhảy xuống, đi lên phía trước, quan sat bằng cái nhìn của một nhà tham mưu chuyên nghiệp. Lúc sau, trở lại xe, Minh nói:
-Báo cáo anh Tư, có thể quẹo vô trong kia một chút, có lán công binh!
-Được! Ra hiệu cho mấy xe sau nhé! Nhớ tản ra, đừng chủ quan… Gần đến ngày toàn thắng rồi…
Thượng tướng thong thả bước theo người chiến sĩ cận vệ xuống suối rửa mặt. Lúc ông lên bờ, trung tá Minh nhìn ông, người thủ trưởng của mình bỗng thấy thương muốn trào nước mắt. Là một cán bộ tham mưu trưởng thành từ người chiến sĩ du kích, Minh được may mắn đi theo ông Trần Văn Trà, được học hỏi, được thử thách, anh cảm thấy ngoài tình đồng chí, cấp trên trực tiếp, thượng tướng còn dành cho anh một tình cảm thấm đậm nghĩa ruột rà.
Nhìn thượng tướng xắm quần cao quá gối, để lộ đôi chân khẳng khiu, và đôi dép cao su đen bóng, khăn mặt vắt vai, bước những bước nhanh nhẹn trên đường rừng gập ghềnh… Minh chạnh nhớ đến những ngày được ở bên trung tướng (cấp bậc của ông lúc đó) Trưởng đoàn quân sự của chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ung dung tự tại giữa Trại Đa-vít, ngay trong lòng kẻ thù. Rất nhiều lần, Minh kinh ngạc trước tài trí thông minh, đối đáp thoải mái với kẻ đối diện đầy khiêu khích, chỉ trực nói xấu, thóa mạ chúng ta. Minh càng kinh ngạc hơn khi thấy kiến thức của ông rộng và rất nhiều lĩnh vực, tri thức và trí nhớ của ông thật sâu sắc. Minh tự hỏi: ông học ở đâu? Học vào lúc nào? Khi cả cuộc đời ông gắn liền với quân đội, với chiến khu rừng rậm, núi cao, sách vở ở đâu? Trường lớp ở đâu?
Minh nhớ nhất là lần chuẩn bị để hai thầy trò rút ra khói Trại Đa-vít, khi thời hạn sáu mươi ngày của Ban Liên hiệp quân sự bốn bên thi hành hiệp định Paris đã hết, mà kẻ thù rắp tâm giữ vị tướng của quân giải phóng lại để làm con tin, gây áp lực với ta trong việc chống phá Hiệp định hòa bình. Mọi người, kể cả các anh lãnh đạo ngoài cứ và Hà Nội đếu lo cho ông, nhưng Minh vẫn thấy thái độ ung dung tự tại:
-Tình hình này coi bộ chúng làm dữ, không cho mình ra, tính sao anh Tư?
-Cậu không phải lo. Thằng Mỹ nó sang đây nó mới ngán chứ chúng ta ở trên đất mình, sao lại phải lo lắng? Ngay tại Sài Gòn này, đồng bào không để cho chúng muốn làm hại Trần Văn Trà đâu. Cứ yên tâm đi. Chiều nay, cậu cùng với chú phiên dịch thay mặt tôi sang mời trưởng đoàn Mỹ, nói trung tướng Trần Văn Trà mời ngài qua nói chuyện chia tay. Quả nhiên, trưởng đoàn Mỹ đã hết sức bày tỏ thiện cảm và lòng khâm phục với tướng Trà, đến nỗi, qua mặt, không thèm nói cho đồng minh của họ là chính quyền và quân đội Sài Gòn, dùng hẳn một chiếc máy bay đưa Trần Văn Trà từ Sài Gòn ra Hà Nội một cách ngang nhiên. Khi không thấy tướng Trà quay về Sài Gòn, chúng lu loa lên rằng Hà Nội đã bắt cóc và quản thúc tướng Trà “của chúng tôi” rồi!
-Chà! Nếu có dịp gặp lại họ, mình sẽ nói thế này: “Bắt cóc thì không, nhưng quản thúc thì có. Tôi bị Bộ chính trị Trung uơng Đảng Lao đông Việt Nam và Bộ Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam “quản thúc” tại Nhà Con Rồng, để bàn cách đánh thắng các ông”.
Hài hước, đôn hậu, nhưng nhìn chung ở thượng tướng toát lên một tinh thần độc lập, tự chủ, khoan hòa nhưng kiên định! Minh và các cộng sự của ông học được ở ông những phẩm chất ấy một cách tự nhiên, đến lúc nào trong lòng mình, trong tâm hồn mình cũng không biết!
Khi thượng tướng trở lại xe, anh công vụ đã tranh thủ mắc chiếc võng dù vào hai thây cây nhún thử:
-Mời thủ trưởng nghỉ tạm để ăn cơm!
Thượng tướng cười hiền lành:
-Cậu đã nằm thử chưa? Có bị sút dây ngã bể mông như hồi ở Trại Đa-vít không?
Anh công vụ còn rất trẻ, nhưng đã theo ông đi suốt mấy năm, kể cả khi vào Sài Gòn, lúc này ngượng đỏ mặt:
-Dạ, báo cáo, em đã ngồi thử rồi ạ! An toàn tuyệt đối!
-Tốt!
-Nhưng mà mình nhẹ ký hơn cậu. Chắc an toàn thôi…
Lần ở Trại Đa-vít, thầy trò không quen nằm nệm, cả nằm ván cũng thấy đau nhức mình mẩy. Thế là lôi chiếc võng “chiến lược” ra dùng. Ai ngờ, cái cột trại lính bằng sắt tròn, trơn láng, không như cây rừng quen thuộc, anh chàng công vụ trẻ măng chủ quan, dây võng dù không ăn. Thế là… thủ trưởng té cái “oạch” xuống nền xi măng, bị đau mông, đau lưng ê ẩm mất mấy ngày…
Nhắc lại chuyện cũ, mấy thầy trò cùng cười. Một tấm nilon và những nắm cơm được bày ra. Huynh đệ chi binh, tướng sĩ một lòng cùng ăn cơm nắm muối mè…
Bỗng tất cả mọi người ngừng ăn, nghe văng vẳng có tiếng hát. Một chiến sĩ cảnh vệ đứng phắt dậy, tay vớ khẩu AK báng gấp, hướng về phía có tiếng hát. Tiếng hát rõ dần, ai nấy đều nghe tiếng ồm ồm giọng mới vỡ tiếng của một cậu trai:
Anh lên xe, trời đổ cơn mưa…
Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ…
Em xuống núi…
Sau tiếng hát là ba chàng lính trẻ đang nghêu ngao, ngẩn mặt nhìn lên tán lá rừng xanh ngắt. Họ tha thẩn như đi dạo trong công viên, vẻ mặt thảnh thơi, trắng trẻo còn nguyên cái thơ ngây của những cậu học trò, chỉ khác cái, họ thùng thình trong bộ quân phục may hơi quá khổ. Hình như họ không phát hiện ra chiếc xe GAZ um tùm ngụy trang và toán người đang ăn cơm.
-Thế là lại được biết thêm một vùng đất mới của Tổ quốc! Các cậu có thích không? Anh chàng đi đầu quay lại nói với bạn.
-Thích! Anh bạn đi sau trả lời. Thế cậu đã ở bên Trung Quốc rồi, có giống bên mình không? Là mình hỏi đất đai, cây cỏ có như bên ta không?
-Cậu buồn cười nhỉ! Đã là đất, là rừng thì đâu chả thế. Chỉ có con người là khác…
-Tớ thấy người Trung Quốc sang Việt Nam, họ đóng quân ở gần làng tớ. Trông họ cứ thế nào ấy…
Anh bạn trẻ nhất, nãy giờ vẫn im lặng, nhìn nghiêng ngó đâu đó trên ngọn cây, bây giờ góp chuyện:
-Thế nào là thế nào?
-Khó diễn tả lắm. Chỉ thấy họ lầm lũi, lặng lẽ. Nhưng nếu bọn trẻ chúng tớ đến gần, họ liền xởi lởi, nhiệt tình ngay. Xin cái gì họ cũng cho. Nhất là huy hiệu Mao Chủ tịch. Hàng vốc!
-Hồi bọn tớ ở bên ấy cũng được họ tặng cho nhiều huy hiệu và sách báo. Toàn là sách tranh ảnh thôi…
Ba chàng lính mới cứ mải chuyện, khi họ còn cách chỗ thượng tướng chừng hơn hai chục mét, anh chiến sĩ cảnh vệ cầm súng toan chạy tới ngăn họ lại, nhưng thượng tướng đã khoát tay:
-Đừng! Cứ để họ đi. Hay là đồng chí mời họ lại đây…
Sau một thoáng ngạc nhiên do dự, anh cảnh vệ bước ra khỏi vòm cây:
-Này, các cậu! Đi đâu đấy?
Lập tức tốp ba người lùi lại, những nòng súng AK chĩa ra như một phản xạ tự nhiên. Anh cảnh vệ cười, nhưng trên khuôn mặt lộ rõ một vẻ nghiêm khắc, cảnh giác:
-Khá lắm! Các cậu ở đơn vị nào?
Ba chàng lính trẻ nhìn nhau, anh chàng đi đầu có cặp lông mày mềm như mày một cô gái, cái miệng hấp háy:
-Chúng tôi là quân giải phóng? Còn ông? Ông ở đơn vị nào?
Người cảnh vệ của thượng tướng lắc đầu:
-Được rồi! Cất súng đi. Tôi cũng là quân giải phóng đây. Các cậu đi đâu mà đi lẻ thế này? Sao mất cảnh giác quá!
Ba chàng nhìn nhau, rồi lại chàng trai có đôi mày lá liễu lên tiếng sau khi đã hất khẩu AK ra sau lưng:
-Chúng em đi… ngắm rừng!
Anh cảnh vệ cười to:
-Trời đất ơi! Rừng có chi mà ngắm hả mấy ông? Bộ mới vô hả?
Ba người còn đang lúng túng, cậu công vụ của thượng tướng chạy lên nói với anh cảnh vệ:
-Chú Tư nói: mời mấy đồng chí này tới nói chuyện!
Anh cảnh vệ gật đầu rồi nói với ba chàng lính trẻ:
-Thôi nào, lại đằng này nói chuyện!
Ba anh chàng tân binh nhìn nhau cảnh giác, có ý ngần ngừ, không chịu. Anh cảnh vệ cười, vỗ vai người đi đầu:
-Thôi mà! Không có chuyện chi đâu. Thủ trưởng của chúng mình muốn nói chuyện với các cậu một lát. Nhanh lên! À này, thủ trưởng chúng tớ hắc lắm đấy nhé. Có gì thì nói, không được nói lung tung!
Thế là cả ba chàng được dẫn tới trước mặt thượng tướng.
-Báo cáo anh Tư, mấy ông tướng này mới vô chiến trường. Vậy mà mấy đứa dám lững thững đi “ngắm rừng”, như đi dạo mát ở công viên Thống Nhất không bằng! Anh cảnh vệ nói vui.
-Không phải! Anh chàng có cặp chân mày con gái, cãi lại. Chúng tôi không “lững thững”, mà đi theo đội hình tổ ba người!
Thượng tướng cười đôn hậu:
-Tốt lắm! Đi theo đội hình chiến đấu ngay cả khi đi “ngắm rừng”. Thế các đồng chí ngắm thấy những gì? Có đẹp không? Có đáng yêu không?
Anh chàng “lá liễu” quay lại nói nhỏ với đồng đội những gì đó, như thể họ đang hội ý, rồi quay lại:
-Dạ, báo cáo thủ trưởng. Đẹp lắm, đáng yêu lắm, nhưng…
-Nhưng sao? Thượng tướng nhíu mày.
-Nhưng bị tàn phá nhiều. Đến nỗi, suốt từ nãy giờ không có tiếng chim hót! Thủ trưởng có thấy thế không?
Cả đoàn ngạc nhiên khi nghe câu trả lời của anh lính trẻ.
Thượng tướng quay sang nói với những người cùng đi:
-Các cậu thấy không? Chúng ta sống quen với bom đạn tàn phá, chúng ta không để ý. Nhưng các cậu này, những chiến sĩ mới toanh của chúng ta đã vô cùng nhạy cảm. Đúng là rừng bị tàn phá bởi bom đạn, đã không còn lấy một tiếng chim. Rồi ông quay sang hỏi ba người lính trẻ:
-Các đồng chí mới vào chiến trường có thấy sợ không?
-Dạ… chúng em chỉ thấy lạ thôi, chưa thấy sợ. Có lẽ chưa đánh trận nào. Nhưng chúng em không sợ.
-Sao lại không sợ? Bom đạn chết người như chơi, sao lại không sợ?
-Dạ! Có sợ cũng không thoát được, nếu bom đạn cứ nhằm vào mình. Phải đánh cho đạn bom của địch phải dạt đi chỗ khác. Phải đánh để chúng không còn đánh được mình!
Cả đoàn lại cười vang. Thượng tướng hỏi tiếp:
-Trước khi đi bộ đội, chắc các đồng chí còn đang đi học?
-Dạ vâng! Người đi đầu chỉ vào bạn. Hai bạn này học lớp muời phổ thông, còn cháu… anh đổi cách xưng hô, cháu học ở trường Thiếu sinh quân!
Thượng tướng gật đầu:
-Thật tiếc cho tuổi trẻ. Đáng lẽ các đồng chí phải được học hành cho đến nơi, đến chốn…
-Dạ không sao! Chúng cháu làm đơn tình nguyện vào chiến trường đấy ạ! Một anh chàng đang học dở lớp mười tham gia. Với lại, không đi chiến đấu vào lúc này, sợ học xong không còn thời cơ. Lúc ấy vào có mà nhặt lon sữa bò…
Anh chàng cười hồn nhiên, làm thượng tướng cau mày. Thấy vậy, cậu bé nhìn thượng tướng lo lắng:
-Dạ… Chúng cháu nói thế không phải hay sao mà thủ trưởng lại…?
-À, các đồng chí nói đúng lắm. Đúng là không đánh trận này thì không còn thời cơ. Thế bây giờ nếu đánh một trận thật lớn, thật ra trò, các đồng chí có quyết tâm đánh không?
Gần như cùng một lúc, không ai bảo ai, cả ba chàng lính trẻ cùng đồng thanh giơ nắm tay:
-Quyết tâm! Quyết tâm!…
Nhưng rồi chợt thấy những người xung quanh đứng ngồi im lặng, mấy khuôn mặt còn niên thiếu của họ đỏ lên. Cậu trai có đôi chân mày con gái ấp úng:
-Nếu cấp trên ra lệnh, chúng cháu sẵn sàng, không ngại hy sinh gian khổ!
“Được huấn luyện khá tốt”, thượng tướng thầm nghĩ, rồi hỏi:
-Các đồng chí có biết mình ở đơn vị nào không?
Anh chàng tổ trưởng ngần ngừ một lúc rồi mạnh dạn:
-Báo cáo thủ trưởng. Đúng ra chúng em không được nói, nhưng em biết thủ trưởng là ai rồi, nên em nói. Chúng em ở sư đoàn 341. Khi nhập ngũ, chúng em chỉ mong được vào chiến trường chiến đấu. Thế mà cấp trên lại cho chúng em vào Hà Tĩnh trồng dứa! Thế có chán không cơ chứ? Đang sốt ruột, bỗng nhiên có lệnh hành quân cấp tốc vào chiến trường. Lại được hành quân bằng ô tô nữa mới sướng chứ! Thế là chúng em đoán sẽ đánh to rồi! Phải không thủ trưởng?
-Các cậu đúng là lính thực thụ rồi! Biết “đánh hơi” thấy chiến dịch đấy. Này, ăn cơm vắt với chúng mình nhé? Đói không?
Cả ba nhìn nhau, rồi một anh đáp:
-Dạ, cơm vắt là cơm gì ạ?
Anh chàng cảnh vệ lúc nãy, nói giọng bắc, hơi lai Nam bộ, (có lẽ do vào chiến trường đã lâu, lại ở chung với người Nam bộ) cười:
-Cơm vắt là cơm nắm. ở ngoài Bắc gọi là cơm nắm, còn trong Nam kêu bằng cơm vắt… Hiểu chưa?
-À? Thế thì chúng em cũng có!
-Nhưng sao các cậu tách ra, đi khỏi đơn vị? Anh cảnh vệ hỏi nhỏ. Kỷ luật chiến trường thế à?
-Chúng em xin phép trung đội đi quan sát địa hình. Đơn vị đang tạm nghỉ chờ lệnh. Thôi, chúng em về đây… Rồi anh ta quay sang hỏi thượng tướng:
-Xin phép thủ trưởng cho em hỏi một câu có được không ạ?
Thượng tướng đặt miếng cơm vắt xuống, dịu dàng:
-Một câu thôi phải không? Được!
-Vâng, hai câu cơ ạ! Có phải các thủ trưởng đi nghiên cứu chiến trường để đánh một trận, trận cuối là trận này phải không ạ?
-Hừ… Câu này hơi khó trả lời. Nhưng gần đúng như thế. Phần quyết định là ở các đồng chí, những người cầm súng trực tiếp ở mỗi mục tiêu…
-Vâng! Chúng em hiểu. Còn đây là câu thứ hai. Thủ trưởng có phải là… Thượng tướng Trần Văn Trà không ạ?
Tất cả ngạc nhiên, sững người. Thượng tướng nhíu mày rồi phá lên cười:
-Trần Văn Trà là ông nào? Mình đâu có biết?
-Thế thì đúng rồi! Cháu nhìn là nhận ra ngay. Thủ trưởng là Tư lệnh quân giải phóng miền Nam!
Quả là thượng tướng thấy thật ngỡ ngàng. Làm sao một anh binh nhì mới toanh từ hậu phương vào đã nhận ra ông được nhỉ? Hình ảnh của ông rất ít được phổ biến. Phần vì bí mật quân sự, phần vì ông ngại để chụp ảnh, mặc dù ông rất mê chụp ảnh.
-À, thôi đúng rồi! Ông Trần Văn Trà là tư lệnh. Ông ta ở tít trong căn cứ để chỉ huy bộ đội chứ ra đây làm gì? Thế cậu thấy ông ấy ở đâu?
-Bố cháu cho xem ảnh. Bố cháu còn kể rằng thượng tướng Trần Văn Trà là một ông tướng tài ba, văn võ song toàn. Ông ấy lại có tài “xuất quỷ nhập thần”. Vừa ở chiến khu, lại đã có mặt ở giữa Sài Gòn. Vừa ở Sài Gòn loáng cái đã có mặt ở Hà Nội. Tấm ảnh của thượng tướng Trần Văn Trà bố cháu lấy từ một tờ báo của Mỹ… Hiện đang treo trên tường nhà cháu ở Hà Nội, cùng với ảnh bà Bình, bà Định…
“Ra thế!”. Thượng tướng cảm thấy vui vui, nhưng lại thoáng buồn. Cuộc đời mình quả có nhiều bất ngờ. Bất ngờ vui có, mà không vui cũng có.
-Thế bố đồng chí làm gì mà có tấm hình của ông Trần Văn Trà?
-Dạ, bố cháu ở Bộ Ngoại giao của chính phủ cách mạng lâm thời…
-Vậy à? Vởy ra đồng chí là con cán bộ cao cấp, học ở trường thiếu sinh quân? Có thể ông bố đồng chí đúng, nhưng đồng chí thì nhầm rồi… Thôi về đơn vị, chuẩn bị chiến đấu tốt nhé. Anh em ta cũng lên đường chứ…
Mọi người đứng dậy thu dọn. Anh chàng tổ trưởng còn bịn rịn. Thấy thế, thượng tướng đến bên vỗ vai:
-Chúc cháu lập công nhé! Thế cháu tên gì?
-Dạ, cháu tên Nghiệp! Bùi văn Nghiệp!
Thượng tướng gật gật đầu như để ghi nhớ, và cũng để lục trong trí nhớ của mình, hình ảnh một người bạn nào đó…
Anh chiến sĩ cảnh vệ nhìn theo ba người lính mới, rồi nghĩ thế nào, anh chạy lên đuổi kịp họ, giọng nghiêm nghị:
-Này, các cậu. Người giống người, dù không phải thượng tướng Trần Văn Trà, nhưng các cậu không được bép xép. Nhớ chưa?
-Vâng, nhớ! Chúng em thề danh dự của người chiến sĩ giải phóng. Không nói gì hết! Nhưng anh ơi, có phải ông Trần Văn Trà thật không ạ?
-Đã bảo người giống người mà còn hỏi. Kỷ luật chiến trường là nghiêm lắm đấy nhé. Tuyệt đối giữ bí mật!
-Vâng! Chúng em tuyệt đối!
-Tốt! Thôi về đơn vị nhanh lên!

***

Đại bản doanh của thiếu tướng tư lệnh quân đoàn Bốn Hoàng Cầm, nằm cách bờ sông La Ngà non hai trăm mét. Từ đây, nhìn ra thấy bóng dáng con sông lấp loáng, lượn lờ sau hàng cây thưa thớt. Con sông này vào mùa mưa, nước dâng cuồn cuộn ngầu đục một màu phù sa đậm đặc, đổ tràn xuống hòa nhập vào thành sông Đồng Nai ra biển. Nhưng bây giờ, đang là mùa xuân, cuối mùa khô, dòng sông thắt lại như một giải lụa mềm, hiền dịu đến nao lòng. Tên dòng sông này còn gắn liền với một chiến công lẫy lừng của quân và dân miền Đông Nam bộ. Đó là trận chiến La Ngà đã đi vào bài học trẻ thơ, mà một trong những người chỉ huy trận đánh năm xưa tiêu diệt một lực lượng quân Pháp hùng mạnh, không ai khác, đó chính là đại tá Bùi Cát Vũ, tư lệnh phó Quân đoàn IV hôm nay!
Từ tám giờ sáng, khi điện cho Bùi Cát Vũ, người đang chỉ huy tiền phương quân đoàn phía bên Hiếu Liêm, Mã Đà, Hoàng Cầm đã báo cho Vũ biết nhiệm vụ mới được giao cho quân đoàn.
-Theo điện báo của Bộ chỉ huy, chiều tối nay, anh Tư Chi( ) sẽ xuống giao nhiệm vụ cho chúng ta. Tình hình cụ thể thế nào, Đảng ủy quân đoàn sẽ bàn kỹ rồi thông báo với các anh sau, anh Ba à!
-Theo anh thì nhiệm vụ mới của ta có hướng gì khác với hiện thời không?
-Khác thì không khác, nhưng chắc chắn là Quân ủy Miền giao cho ta đánh Xuân Lộc. Như thế có nghĩa là phải kéo Công trường 7( ) từ Di Linh về…
-Sợ anh em Công trường 7 đuối sức, vì phải hành quân vận động trong một thời gian và quãng đường dài, mà chưa được nghỉ lấy lại sức.
-Tôi cũng nghĩ thế, nhưng nhiệm vụ đã giao, phải cố động viên anh em. Hiện sư 341 đã vào đủ cả, nhưng E 171 lại đang ở Chơn Thành, có về kịp cũng phải mất năm ngày đến một tuần…
-Cũng gấp quá! Nhưng nếu chỉ để một mình F6 đảm đương phía Tây đường 20 e mỏng quá…
Nằm gối đầu lên hai cánh tay, đung đưa trên võng, đôi mắt vị tư lệnh Quân đoàn ngó chăm chắm lên mái lá trung quân lợp vội vẫn còn đang xanh ngắt. Kể cũng lạ, rừng sâu bị tàn phá, bị bóc đi từng mảng là thế, mà có những loài cây sống kiên trì, dai dẳng một cách khác thường. Ví như cái cây có tên là “trung quân” này đây, khi bị lửa đốt nhất định không chịu cháy, kể cả khi đã khô giòn. Mà ai là người đầu tiên phát hiện ra tính chất đặc biệt này của nó nhỉ? Thân lá dày và rộng như lá mít, đem gấp đôi lại, ghim lên một cái que tre, thành những tấm tranh lợp nhà. Nhìn bên trong đều tăm tắp, nhìn bên ngoài như ngói lá đề. Bền nắng, chịu mưa và không hề bắt lửa! Kể ra, bao giờ hết giặc dã, đạn bom, về lại cánh rừng miền Đông này, dựng một ngôi nhà tre gỗ, lợp lá trung quân. Thắp một ngọn đèn thật sáng, không phải che đậy… để sống với tuổi già, thì thật còn gì hạnh phúc hơn? Xung quanh nhà tiếng suối chảy róc rách, tiếng ve rừng ca hát miên man, tiếng mễn tác cầm canh… Hoa rừng vào mùa nở ngút ngàn, sim, mua, bằng lăng tím ngát… Cứ thế, tư lệnh chợp mắt đi một lúc, cho đến khi có tiếng gọi nhỏ của chú công vụ:
-Có chuyện gì thế?
-Dạ, trực ban báo. Anh Tư Chi đã xuống!
-Được rồi! Để tớ ra…
Theo một ngách thông hào, Hoàng Cầm đi sang căn hầm dành riêng cho khách đã được chuẩn bị. Vừa thấy Hoàng Cầm, Trần Văn Trà đã mỉm cười:
-Trông anh gầy sọm đi! Không ngủ được à?
Hoàng Cầm đến ôm lấy Trần Văn Trà:
-Anh đi từ mấy giờ mà giờ này đã tới rồi?
-Đường tốt, không có máy bay, nên xe chạy ngon lắm! Anh em khỏe cả chứ?
-Vâng, rất khỏe! Anh nào anh nấy cứ như hộ pháp. Mà có muốn bệnh cũng không được! Mời anh ra rửa chân tay rồi vào anh em mình nói chuyện. Tôi cũng muốn gặp anh quá!
Trần Văn Trà kéo tay Hoàng Cầm sang hầm trực ban:
-Sang đây ta bàn luôn. Tôi muốn bàn với anh, với tư cách anh là phó tư lệnh Miền, trước khi anh nhận nhiệm vụ với tư cách là tư lệnh Quân đoàn! Anh em ở các sư đoàn có mặt đủ cả rồi chứ?
-Đủ cả, nhưng chỉ đến được một người thôi, còn phải ở nhà chỉ huy đơn vị!
-Ừ, thế cũng được. Bây giờ, ta phải đánh Xuân Lộc!
Hoàng Cầm châm một điếu thuốc, nhìn theo bóng khói, chờ cho thượng tướng nói tiếp, nhưng Trần Văn Trà vẫn im lặng, ra chiều để thăm dò phản ứng của Hoàng Cầm. Dụi tàn thuốc xuống cái gạt bằng một mảnh gỗ, Hoàng Cầm nhỏ nhẹ:
-Tôi cũng nghĩ, các anh đã quyết định cho đánh Xuân Lộc!
-Trung ương Cục cũng đã nhất trí với Quân ủy và Bộ tư lệnh miền. Cái này giao cho anh đấy, Năm Thạch( ) à! Trần Văn Trà cười, liếc nhìn cái cằm bạnh toàn râu của Hoàng Cầm. Giao Quân đoàn Bốn cho anh mà từ đầu tới giờ chỉ toàn là buôn bán nhỏ kiểu hàng xén. Bây giờ Quân đoàn làm một chuyến lớn nhé! Xong Xuân Lộc, các anh phải vào ngay Sài Gòn! Đó là một điều chắc chắn! Không thể khác được! Lực lượng B2 bao năm trông chờ chỉ một ngày lập công! Đúng như ta đã nắm được tin tình báo. Weyand từ Mỹ sang đã vội vã ra ngay Nha Trang và sau đó là Xuân Lộc, ông ta đã suy ngẫm rất kỹ rồi nói với Cao Văn Viên và sau đó là Thiệu rằng: “Mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn!”.
Hoàng Cầm vẫn đăm chiêu suy tư, lắng nghe cặn kẽ từng lời, đoán từng ý của cấp trên đang giao nhiệm vụ. Khi Trần Văn Trà ngừng lời, ông nói nhỏ, như một tâm sự:
-Nha Trang đã mất vào tay ta vài ngày nay. Phan Rang, Phan Thiết chắc không thể khác được. Tôi nghĩ lúc đó, tức là khi Quân đoàn Hai và lực lượng của anh Tấn vào, việc đánh Xuân Lộc sẽ dễ dàng hơn, nếu không muốn nói là tự khắc chúng sẽ tan rã…
Trần Văn Trà đứng dậy đi lại trong căn nhà hầm chật chội, tiếng ông đã đổi sắc, da diết và sắc nhọn hơn:
-Năm Thạch này, anh em mình bao năm ở chiến trường với nhau, chắc không ai lạ tính, lạ nết của nhau. Gian khổ cùng sẻ chia, vui mừng cùng tận hưởng. Có một điều mà không ai không biết: xương máu của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân B2 đổ ra ba mươi năm qua là quá nhiều rồi. Nhưng không thể vô ích. Cho nên, chúng ta, những người cầm quân ở chiến trường này phải làm gì để trả nghĩa lớn… Truyền thống của B2 thành đồng là tự lực cánh sinh, có gì đánh nấy, không trông chờ!
Hai người cùng im lặng. Xa xa, vẳng lại tiếng hát rạo rực của bài ca chiến thắng từ một chiếc radio nào đó. Hoàng Cầm cũng dần hiểu được ý đồ của cấp trên, ông ngẩng lên, nhìn thẳng vào mắt thượng tướng:
-Tôi hiểu ý anh, mà ý anh cũng như ý tôi. Anh còn nhớ cách đây chưa đầy nửa tháng, tôi đã nêu ý kiến xin anh cho đánh Xuân Lộc?
-Tôi nhớ chứ! Nhưng lúc đó, nhiệm vụ của chúng ta là giải phóng đất đai, giải phóng nhân dân, tiếp tục mở rộng hành lang nối liền với B3 để tiếp nhận lực lượng. Giờ đây nhiệm vụ đã có sự thay đổi…
Thượng tương Trần Văn Trà rút trong túi áo ra mảnh giấy gấp tư, mở ra:
-Sớm nay, tôi vừa nhận được điện của anh Văn. Xin đọc một đoạn để anh nghe: “C-Hướng phía đông, gồm những sư đoàn hiện nay đang có tại chỗ (không nên điều động xáo trộn làm mất thời gian) tăng thêm lực lượng cần thiết, nhất là binh khí, kỹ thuật, trước hết là diệt sư đoàn 18, đánh chiếm Xuân Lộc, áp sát sân bay Biên Hòa càng sớm, càng tốt”. Đó, anh thấy đấy, ý kiến chỉ đạo của Quân ủy trung ương trùng với quyết tâm của Trung ương cục và Quân ủy miền. Về thực chất, cả tôi và anh đều hiểu, đây là mệnh lệnh chiến đấu của đại tướng, Tổng tư lệnh!
-Vâng! Tôi hiểu rõ mệnh lệnh của cấp trên. Nhưng có điều này, tôi trình bày với anh, không phải để ta thán mà để anh hiểu cho. Quân đoàn Bốn vốn đã yếu, đặc biệt là về quân số và binh khí kỹ thuật. Thế mà anh lại cắt sư đoàn 9 của chúng tôi… Sư đoàn 7 thì đang phân tán, rải suốt chặng đường trên 200 cây số từ Di Linh, Định Quán đến Gia Kiệm. Sư đoàn 341 vừa mới chân ướt chân ráo vào chiến trường, lại phải điều một trung đoàn sang Chơn Thành… Nhiệm vụ đánh Xuân Lộc lại quá gấp, xin anh cho lui lại hai ngày để chúng tôi thu quân và tổ chức trinh sát, nắm được tình hình chiến trường, dù là sơ bộ!
-Lát nữa họp toàn thể cán bộ Quân đoàn, chúng ta sẽ nghe ý kiến của anh em, nhưng tôi đồng ý ta sẽ lui ngày tiến đánh Xuân Lộc lại hai ngày. Còn lực lượng thì chúng ta lại phải tác chiến theo kiểu B2 vậy, Năm Thạch à! Phải điều Công trường 9 xuống cho đồng bằng, cho anh Lê Đức Anh. Dưới đó mỏng quá, mà nếu không phải là sư 9 thì không có anh nào quen thuộc địa bàn để đảm nhiệm việc ấy. B3 đang cho chúng ta một trung đoàn, E95 của sư 230. Đây cũng là một trung đoàn thiện chiến, nhất là đối với địa hình rừng núi… Như vậy, nếu tính cặn kẽ, ta cũng có đủ một Quân đoàn để áp đảo sư 18 của Lê Minh Đảo, dù cho chúng cho thêm Đảo một Lữ dù, và một số đơn vị tăng pháo nữa!
Hoàng Cầm còn muốn nói thêm vài điều băn khoăn của mình, nhưng ngẫm lại, thấy không cần thiết. Lát nữa cuộc họp các cán bộ sư đoàn, và các cục tham – chính – hậu, có thể anh em sẽ nói thay mình. Ông chuyển câu chuyện sang hướng khác:
-Anh đã gặp Trần Văn Trân chưa? Tối qua, ba anh em tôi, anh Hoàng Thế Thiện và anh Trân nói chuyện mãi. Anh em nói vui, Trần Văn Trân là em ruột của Trần Văn Trà! Mà không phải anh em ta nói đâu, đài địch cũng đoán mò thế đấy… Chúng tiếc ngơ tiếc ngẩn khi phải trao trả một tư lệnh sư đoàn mà không biết…
Trần Văn Trà cười lớn:
-Hóa ra cái họ Trần của chúng mình cũng oai gớm nhỉ. Hôm ở Hà Nội có chào nhau sơ sơ, thế mà giờ đây hai anh em mình lại chung một chiến trường, chung một nhiệm vụ. Nghe nói bà vợ ông ấy nghe tin chồng hy sinh đã chạy ngay lên Bộ Tổng đòi xác minh…
-Tôi không rõ lắm, nhưng Trần Văn Trân là một tay cừ đấy anh ạ. Chỉ có điều, 341 toàn lính mới, không rõ rồi sẽ làm ăn ra sao? Tôi lo cho anh em quá…
-À, mình kể cho ông nghe. Trên đường xuống đây, mình gặp mấy cậu tân binh, lính của ông Trân, anh em quyết tâm và hăng hái lắm. Có cậu còn bảo: nếu không được tham gia trận đánh này, sẽ lỡ vận hội với đất nước. Trong đó có một cậu đang là học sinh trường thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi. Hình như thằng con trai anh cũng đang học trường này?
Hoàng Cầm cười dễ dãi:
-Tôi mới nhận thư của mẹ nó báo tin nó nhập ngũ từ năm ngoái, cũng đi B rồi, hiện giờ không biết nó ở chiến trường nào? Không khéo cha con lại gặp nhau ở trận này…
Trần Văn Trà trầm ngâm:
-Chiến trường rộng quá, làm sao biết hết được. Nhưng nếu cả hai cha con anh cùng có mặt ở Sài Gòn một thời điểm thì còn gì bằng…
-Vâng! Tôi cũng nghĩ thế!
Vừa hay, có tiếng chào to:
-Xin chào đồng chí Tư lệnh quân giải phóng miền Nam!
Hai người quay ra: Chính ủy quân đoàn Hoàng Thế Thiện, cao lớn, đường bệ, đôn hậu đến mức dễ dãi. Thượng tướng Trần Văn Trà ôm lấy Hoàng Thế Thiện:
-Anh xuống tận đây là có chuyện to rồi! Anh em chúng tôi đêm qua cũng đã bàn rập rạp…
-Tất nhiên là có. Vận nước đã đến rồi. Lần này hơn hẳn năm Mậu Thân! Anh em mình cố gắng nhé!
-Xin tuân lệnh thủ trưởng. Anh em mời tư lệnh ra thưởng thức món cà phê Xuân Lộc, rồi cùng nghe chỉ thị đấy ạ. Anh ra ngay, để anh em chờ…

CHƯƠNG NĂM

Tư lệnh sư đoàn 18, chuẩn tướng Lê Minh Đảo vội mở choàng mắt. Ông nghĩ đêm có lẽ đã khuya lắm. Nhưng khi định thần rồi ngồi dậy nhìn vào chiếc đồng hồ thủy quân lục chiến trên cổ tay đầy lông, mới chín giờ! Bên ngoài bóng anh lính hầu vẫn lăng xăng, lay động như một người tất bật, nhẫn nại.
Tướng Đảo tụt xuống giường lùa dép và bỗng cảm thấy đầu hơi choáng. Hậu quả của chai Martel lúc chiều của viên trung tá Bảo vừa được bổ sung về ban tham mưu sư đoàn đem lên đãi tư lệnh. Vốn không phải là người uống nhiều, nhưng thấy thuộc cấp nhiệt tình, ông cũng làm đến bốn, năm ly.
-Thưa chuẩn tướng, ở trong cơ quan bộ tổng tham mưu và cả bên tổng cuộc chiến tranh chánh trị, người ta nói nhiều về chuẩn tướng. Viên trung tá nhìn ông, nở một nụ cười cầu thân.
-Họ nói những gì, trung tá nói tôi nghe coi?
-Dạ… Bảo vẫn cười cười. Họ nói chuẩn tướng dám chưởi đại tướng Weyand, mà chưởi bằng tiếng Mỹ hẳn hoi. Vậy mới siêu chớ!
Viên đại tá tham mưu trưởng chen vào:
-Anh nói vậy là chưa đủ. Cả Sài Gòn, các giới chánh khách, thương gia… họ còn nói bạo hơn nữa kìa!
Bảo hơi bị cụt hứng, nhìn đại tá khó chịu. Chuẩn tướng tư lệnh ngó trung tá Bảo, với một vẻ nghi ngờ, xen lẫn giễu cợt:
-Trung tá có nghe trực tiếp hay kiếm chuyện gài tôi đó? Lúc này ai mà dám chưởi Mỹ. Chưởi một người Mỹ thường thôi cũng coi như tiêu, đừng nói chưởi ông đại tướng Weyand tham mưu trưởng lục quân Huê Kỳ!
Nói xong, tư lệnh cầm ly rượu trên tay, gườm gườm nhìn viên trung tá, khiến anh ta bối rối:
-Dạ, trình chuẩn tướng, chính tai tôi nghe thiệt mà! Chuẩn tướng nghi ngờ kiểu này có ngày chết em út thôi!
Lê Minh Đảo đẩy cái ly của mình chạm vào ly của trung tá Bảo, cười lớn:
-Nhát gan! Nói chưởi theo kiểu hàng cá chợ Cầu Muối thì oan cho tôi quá. Tôi chỉ chất vấn cái quan điểm của người Mỹ thôi. Họ nói chống cộng, mà càng chống càng thấy Việt Cộng mạnh lên. Giờ này Việt cộng và cộng sản Bắc Việt nó mạnh quá sá rồi thì họ… bye! Để anh em mình gồng mình ra mà chịu. Nhưng không sao, họ cứ đợi đấy, mà nhìn Quân lực chúng ta…
-Hoan hô chuẩn tướng! Bảo và mấy viên sĩ quan tham mưu tung hô viên tư lệnh của mình…
-Thôi, giải tán, ai về chỗ của mình! Coi chừng Việt cộng tấn công lúc nào không hay…
Khi đám bộ hạ đi hết, Tư lệnh gọi anh lính hầu đến bảo:
-Út, tao chợp mắt một chút, ai hỏi nói tao đi ra ngoài, nghen!
-Dạ! Nếu đại tá Mai phó tư lịnh tới…?
-Cứ bảo ông ta ngồi đợi!
-Dạ! Tên Út lom khom ra khỏi phòng…
Thế mà đã nhắm mắt được gần hai tiếng đồng hồ. Tư lệnh gọi Út vào bảo chuẩn bị nước tắm. Trong tiếng nước chảy ro ro, tư lệnh vừa ngâm mình trong bồn, vừa lẩm nhẩm mấy câu hát. Trong hàng ngũ tướng lãnh và sĩ quan của quân lực có lời đồn đãi, và chính Lê Minh Đảo tự nhận thấy mình có những cái khác với các tướng lĩnh trong quân lực. Chỉ riêng trong trường hợp ngủ thôi, ông cũng không giống họ. Hầu như các tướng và ngay cả ở cấp đại tá, họ có sức ngủ rất tốt. Đã gọi là “tướng trận” khi đặt mình là ngáy, mặc kệ ngoài trận tiền hay giường nệm. Riêng ông thì không, dù mệt mỏi hay căng thẳng cỡ nào, nằm xuống cũng phải trằn trọc mãi mà giấc ngủ không tới. Có lẽ cái chất nghệ sĩ trong người ông nó lớn quá! Suốt những năm tháng binh lửa, xông pha trận mạc, khi thắng, khi bại… chất nghệ sĩ luôn luôn hiện hữu và tạo ra một mối ưu tư, u hoài, một nỗi đau đời trong ông!
Từ phòng tắm bước ra, thấy đầu óc sảng khoái hơn, đỡ mệt hơn, Lê Minh Đảo thay quân phục, nhấc máy điện thoại:
-A lô! Ban tham mưu hả? Chuẩn bị cho hai xe ta đi tuần tra các chốt nghe! Nói đại tá Mai chuẩn bị cùng đi.
Đã hơn mười giờ, mấy chiếc xe của Bộ tham mưu sư đoàn 18 đèn pha rạch đêm tối chạy lên hướng sân bay. Bỗng phía trước có một loạt ánh đèn pha sáng rực, đèn signal nhấp nháy, ra hiệu. Tướng Đảo bảo tên lái xe:
-Tắt đèn đi, coi đứa nào?
-Chắc tụi quân cảnh của quân đoàn! Viên thiếu tá ngồi trước xe nói nhỏ. Chỉ có tụi nó mới dám chạy giờ này…
-Thiếu tá chạy lên hỏi coi đơn vị nào?
Viên thiếu tá lò dò nhảy khỏi xe, tay che ánh đèn, miệng quát:
-Xe của đơn vị nào?
Từ trong ánh đèn nhấp nháy, một sĩ quan chui ra, Đảo nhận ra viên đại úy, phụ tá của đại tá tỉnh trưởng. Y chạy đến nói gì đó với viên thiếu tá phụ tá của tướng Đảo. Anh này quay lại xe:
-Trình chuẩn tướng, xe của đại tá Phúc!
-Anh có nói có tôi ở đây không?
-Dạ, không! Thưa chuẩn tướng…
Đảo ra lệnh cho tên lái xe quẹo qua bên trái, không chạy lên hướng sân bay, mà tiến vào Ban chỉ huy chiến đoàn 43 của đại tá Lê Xuân Hiếu. Từ trong xe, tư lệnh sư đoàn nhìn sang hai bên đường, nhà dân đã đóng cửa im lìm. Một không khí sợ sệt, lo lắng thấy rõ sau từng cánh cửa. Chạy thêm một đoạn, chiếc xe chồm lên con đường sắt, hai thanh ray khẳng khiu làm chiếc xe nhảy lên tưng tưng. Bỗng từ những căn nhà thấp lè tè bên tay mặt, nhô ra mấy cô gái. Trong ánh đèn xe lấp lóa, các cô vừa lấy tay che mắt, vừa cười cợt vẫy chào, mời mọc đoàn xe, mà họ đâu biết đó là xe của chuẩn tướng. Đây là những cô gái điếm chuyên nghiệp, vốn trước đây bám theo mấy đơn vị lính Mỹ. Nay quân Mỹ rút đi rồi, nhưng bọn họ vẫn trụ lại làm ăn với lính sư đoàn 18. Tướng Đảo lắc đầu, nói nhỏ:
-Tụi nầy vẫn bám chặt lấy lính… Chắc suốt đêm họ không ngủ?
-Lính ông Hiếu có đồng nào ném vô đây hết đó, chuẩn tướng!
Đoàn xe vẫn vút qua trong tiếng mời chào ong óng của các cô gái.
Thấy có vệt đèn hướng vào cổng đơn vị, tên lính gác đứng chặn đưa tay ra hiệu cho đoàn xe dừng lại. Viên thiếu tá thò đầu ra, quát to:
-Xe của tư lịnh! Tụi bây có mắt không hả?
Tên lính gác soi đèn pin nhìn bảng số, rồi dừng lại ở lá cờ tướng được bọc lại, nhọn hoắt trên mui xe, tỏ vẻ nghi ngờ. Thiếu tá nhảy xuống
-Soi soi cái gì? Mở cổng ra, nói đại tá Hiếu có chuẩn tướng đến…
Tên lính gác cổng lắp bắp:
-Trình thiếu tá, lệnh của đại tá bắt phải kiểm tra gắt. Có tin tụi biệt động Long Khánh vẫn giả dạng quân đội, đột nhập căn cứ…
-Thôi được rồi! Mày không biết tao hả? Hay chuẩn tướng phải xuống xe trình diện?
-Dạ, không dám, thưa thiếu tá! Tên gác cổng lui lại mấy bước rồi khoát tay nói to vào bên trong:
-Mở cổng! Xe của chuẩn tướng!
Nghe tin chuẩn tướng tư lệnh xuống, đại tá Hiếu, chiến đoàn trưởng chiến đoàn 43 vội rời khỏi bàn tứ sắc, chạy vội về phòng chỉ huy, quát lính hầu:
-Thay đồ trận! ĐM, chuẩn tướng Đảo xuống! Lẹ lên mậy!
Nhưng đại tá chưa kịp mặc quân phục thì tư lệnh đã bước vào. Với một nửa quân phục trên người, áo đại tá, quần sà lỏn, đại tá đứng nghiêm:
-Trình chuẩn tướng, tôi đại tá Hiếu…
Chuẩn tướng mỉm cười:
-Trình, trình cái con khỉ! Nhìn đại tá có khác nào tên gian phu bị bắt quả tang! Lẹ lên ra đây nói chuyện…
Đại tá tư lệnh phó Lê Xuân Mai đứng phía sau thì cười lớn:
-Anh Hiếu mới “tác chiến” hả?
Đại tá Hiếu tuy rất mắc cỡ, nhưng thấy chuẩn tướng xuề xòa, thông cảm, lại có cả người đồng cấp, tuy giữ chức cao hơn hỏi đùa, ông cũng an tâm:
-Ủa! Có cả đại tá Mai? Thật hân hạnh cho tôi quá!
Thuận tay đại tá Hiếu bạt tai tên lính hầu:
-ĐM, làm cái giống gì lâu qua vậy, thằng nhỏ?
Thằng nhỏ loạng choạng, nhưng cũng kịp lồng đôi giày vào chân ông chủ. Bây giờ thì đại tá Hiếu có thể ung dung ưỡn ngực bước ra, đúng quân phong, quân kỷ:
-Trình chuẩn tướng tư lệnh và đại tá phó tư lệnh! Tôi, đại tá Lê Xuân Hiếu chiến đoàn trưởng chiến đoàn 43 xin trình diện chuẩn tướng!
Tướng Đảo, với khuôn mặt sáng sủa, nhẹ nhõm và ngây thơ như một anh hạ sĩ trong bộ đồ trận, áo giáp, nón sắt nghiêm chỉnh, gật đầu:
-Đại tá yên vị! Tình hình đơn vị thế nào?
Đại tá Hiếu mời hai vị chỉ huy vào phòng tác chiến, bên tấm bản đồ và thong thả trình bày một loạt những vấn đề về bố trí đội hình và hỏa lực. Giọng nói của đại tá chiến đoàn trưởng âm vang, đanh thép, mặc dù vẫn rất khiêm tốn, dễ hiểu. Tướng Lê Minh Đảo vừa nghe, vừa gật đầu, thầm nghĩ. Tay Hiếu này tuy tính nết có tham lam, lại háo sắc, nhưng giỏi chiến thuật quân sự. Tướng Đảo tự thấy mình sáng suốt khi ông chọn chiến đoàn 43 của Hiếu đóng kèm sát bảo vệ bộ tư lệnh sư đoàn quả không sai. Khi đại tá Hiếu nói xong, chuẩn tướng tư lệnh tiến tới bắt tay ông ta:
-Anh khá lắm! Chắc cấp dưới của anh cũng được chuẩn bị tốt chứ?
-Trình chuẩn tướng, anh em tôi quyết tâm bám trụ, giữ mảnh đất Long Khánh đau thương và can trường này. Dưới sự chỉ huy của chuẩn tướng và đại tá…, chúng tôi quyết không nhường một tấc đất cho cộng sản Bắc Việt!
Chuẩn tướng Đảo mỉm cười, nhếch bộ ria lún phún trên mép:
-Bây giờ tôi muốn thị sát một đơn vị tiền tiêu?
-Xin mời chuẩn tướng! Đại tá Hiếu nhanh nhẹn xoay người bước những bước dài vượt đi trước, nhưng trước ông, một đại úy đã phóng lên. Tư lệnh và toàn ban tham mưu đi sau. Họ luồn lách qua những hàng rào dây kẽm gai cuộn, ngoằn ngoèo xen lẫn với những lùm cây gai mắc cỡ. Tướng Hiếu dừng lại chỉ cho tư lệnh:
-Cách đây khoảng hai mươi lăm mét là hàng rào kẽm gai có gài mìn sát thương và mìn chống tăng. Cứ hai trăm mét có một chốt hỏa lực…
Họ lại tiếp tục đi qua những dãy nhà lợp tôn, trong đó vẳng ra tiếng nói ú ớ của một người lính đang ngủ mê. Bỗng một tốp lính gác ba người trong tư thế phòng thủ hình chữ “V” hiện ra, quát to:
-Dế Mèn?
-Bọ Cạp đây! Viên đại úy đáp mật khẩu rồi nói với anh hạ sĩ đốc gác. Đại tá Hiếu xuống thị sát. Các anh ở đại đội nào?
-Dạ, trình đại úy, chúng tôi là lính tiểu đoàn 3. Để tôi báo với thiếu tá tiểu đoàn trưởng.
Viên thiếu tá chui ra khỏi lều, thấy đại tá chiến đoàn trưởng và cả chuẩn tướng tư lệnh thì đứng ngay như khúc gỗ, gót chân dập vào nhau, tay vung lên, chạm mũ sắt:
-Trình chuẩn tướng và các đại tá, tôi, thiếu tá Nhỡ, tiểu đoàn trưởng có mặt!
Hình như tay này vẫn chưa ngủ, tướng Đảo thầm nhận xét. Bỗng dưng ông thấy nao nao, muốn lao đến ôm lấy viên thiếu tá, để động viên, vỗ về trong tình cảm huynh đệ chi binh. Nhưng trước ba quân, ông chỉ đáp nhỏ:
-Tinh thần anh em rất khá. Tôi biểu dương anh em…
Đại tá Hiếu tiến lên, giọng oang oang, nghiêm chỉnh, nhưng vẫn để lộ vẻ tự hào, tếu tếu:
-Ông thiếu tá, cái món “Kachiusa Hoa Kỳ” của ông thế nào rồi?
-Dạ, trình đại tá, rất ngon! Anh em đã thử rồi, chỉ chờ quân cộng sản tới là có thể mang ra chiêu đãi…
Tướng Đảo hỏi Hiếu:
-Các anh có món gì mà bí mật thế?
-Dạ, trình chuẩn tướng! Đại tá Hiếu hào hứng. Chuẩn tướng có nhớ hồi năm kia, sau hòa đàm Ba Lê, quân Mỹ ở Biên Hòa, Long Khánh rút đi. Theo đó họ đem máy bay trực thăng về bển nhưng số hỏa tiễn gắn trên trực thăng còn để lại, chất hàng đống ở kho Long Bình không? Sau đó chuẩn tướng cho mở kho…
Chuẩn tướng gật gật:
-Nhớ! Nhớ chứ…
-Và, bây giờ anh em chiến đoàn sáng chế ra loại bệ phóng bằng… cây! Muốn bắn chỉ cần chích điện là T54 của Nga Sô tan ra nước… Anh em đặt cho nó cái tên là Kachiusa, y hệt cái tên của Nga Sô viện trợ cho cộng sản!
Chuẩn tướng vỗ vai thiếu tá tiểu đoàn trưởng:
-Khá! Khá lắm… Anh cho tôi xem qua được không?
-Dạ, xim mời chuẩn tướng!
Một tấm ponchot được lật ra, trên ba thanh gỗ đấu lại thành ba cái chân khá vững chãi là một cái bệ cũng bằng gỗ, có gắn một quả hỏa tiễn hướng mũi nhọn về phía hàng rào. Một sợi dây điện kéo xuống mặt đất và khuất vào trong một công sự bao cát.
Thiếu tá Nhỡ bảo một anh lính lại gần, hỏi:
-Kết quả bắn thử thế nào, mày trình để chuẩn tướng nghe đi.
Anh lính ấp úng:
-Dạ, trình các ngài, khi bắn phải có hai người xoay cái chân này để đầu hỏa tiễn đi đúng mục tiêu. Cự ly bắn vượt qua hàng rào, xuyên thủng lô cốt. Nhưng mà…
-Nhưng sao? Chuẩn tướng hỏi.
-Dạ trình chuẩn tướng, nó nổ dữ quá! Tụi em không lẹ chân bị nó thiêu rụi…
Mấy ông sĩ quan cười, tư lệnh vỗ vai anh lính:
-Đáng khen lắm! Ông thong thả bước lên môt cái thùng đạn gần đó, sửa hai chân cho chắc chắn, nhìn những người lính lúc này đang đứng xung quanh khá đông:
-Anh em! Chuẩn tướng lấy giọng. Hôm nay tôi đến đây để thăm hỏi anh em, không chỉ bằng trách vụ của người chỉ huy, vị tư lịnh, mà còn bằng tình thương của người lính trận. Sư đoàn 18 của chúng ta đã trải qua nhiều trận đánh và có những trận chiến thắng vang dội. Nhờ vậy mà người lính Nỏ Thần đã trưởng thành trong khói lửa, quân kỳ của sư đoàn được gắn nhiều anh dũng bội tinh, mang dây biểu dương màu quân công bội tinh. Nhờ niềm hãnh diện đó, dân và lính miền đất đỏ, sẽ đánh một trận cuối cùng với giặc tại Xuân Lộc, vừa rửa hận cho Dân, cho Nước, vừa lưu danh ngàn đời trong Việt sử, chống ngoại xâm do Bắc Việt mang từ Nga Tàu về…
-Hoan hô!… Những tiếng hoan hô, những tràng vỗ tay vang dậy, hưởng ứng những lời lẽ vừa văn hoa lại chân tình của chuẩn tướng tư lệnh, làm cảm động tấc lòng bao binh lính.
-Tôi lưu ý anh em: đây là trận cuối cùng, nếu thua, chúng ta hết đường rút vì như thế, chúng ta đã để ngỏ cánh cửa cho chiến xa, đại bác và bộ binh của cộng sản tiến thẳng vào thủ đô Sài Gòn. Cả nước đang trông vào chúng ta, vào anh em. Anh em có quyết tử thủ Xuân Lộc không?
-Quyết tử! Quyết tử!..
Một viên trung úy, cũng trong bộ đồ trận, áo giáp, mũ sắt, bước ra khỏi chỗ đứng:
-Trình chuẩn tướng! Biết quân cộng sản ở đâu, chỉ cần chuẩn tướng ra lịnh, tụi tôi sẽ hành quân tới giết sạch bọn chúng!
Tướng Đảo nhìn anh ta:
-Trung úy có tinh thần rất cao, thế là tốt. Nhưng bây giờ không thể tìm cộng sản mà tiêu diệt như trước kia, ngày còn quân Mỹ, cả bộ binh thiết giáp và không quân của họ. Ngày mai, có thể là ngày mốt, mà cũng có thể là ngay bây giờ, quân cộng sản sẽ đánh vào đây. Lúc đó trung úy sẽ có dịp đền nợ nước…
Viên trung úy lủi thủi bước về chỗ cũ, anh ta còn nghe được ai đó càu nhàu: “Rõ thật là thằng ngu! Cộng sản đầy ngoài Phan Thiết kia kìa… Bọn biệt động, mũ nồi xanh, thủy quân lục chiến bị cộng sản dí chạy như vịt về kia…”.
Tướng Đảo cũng nghe thấy câu ấy, nhưng ông coi như không để ý. Bởi vì, thực tế đúng như vậy. Không nên làm bùng nổ những cái nhọt đang âm ỉ trong sư đoàn. Cần phải cổ vũ tinh thần họ.
-Vậy nghe, anh em! Quân cộng sản muốn vô đây, hãy bước qua xác Đảo này!
Ông nói câu cuối cùng rồi bước xuống. Một làn sóng tung hô ông ào ạt. Tư lệnh đứng lặng, trong lòng ông bỗng thấy trống trải. Ngày mai, ngày mai nữa, nơi đây sẽ thành bình địa…
Trở lại căn cứ chiến đoàn, mọi thủ tục nhà binh coi như đã xong, đại tá Hiếu nói nhỏ với chuẩn tướng:
-Anh Hai, khuya khoắt này mà còn xuống thị sát đơn vị. Ở đây ăn khuya với tụi tôi một bữa. Chiến đoàn nghèo lắm, nhưng cũng có cái tiếp anh Hai…
Trong tinh thần huynh đệ chi binh của quân đội Việt nam cộng hòa, đôi khi những chiến hữu sống trong tình thương như một gia đình. Nhưng là gia đình quân kỷ, quân phong. Ở nhà tướng Đảo là anh lớn trong gia đình, tức anh Hai. Trong sư đoàn, những sĩ quan kề cận, thân mật gọi chuẩn tướng bằng thứ như những người dân Nam bộ. Tuy đại tá Hiếu nhiều tuổi hơn chuẩn tướng, nhưng ông vẫn gọi vị tư lệnh sư đoàn là anh Hai. Thứ Hai trong gia đình và anh Hai trong sư đoàn.
Tướng Đảo quay sang nhìn đại tá tư lệnh phó:
-Anh Hiếu mời kìa, đại tá?
-Xin chuẩn tướng ra lịnh cho đàn em… Đại tá Mai cười hề hề. Trong doanh trại anh Hiếu lúc nào chả sẵn đồ tươi.
Cả bộ chỉ huy sư đoàn và chiến đoàn cùng cười, nhưng tướng Đảo vẫn trầm ngâm. Đại tá Hiếu thấy thế, nói với đại tá Mai:
-Trên trển bữa nay có chuyện gì mà thấy tư lịnh không vui?
-Ông Toàn ra đây, đang ở bên dinh thự của ổng. Không biết đã về chưa, nhưng quân cảnh dàn đầy ngoài đường. Chắc vậy?
Lê Minh Đảo ngửa mặt nhìn lên bầu trời thăm thẳm đen, nhưng xa xăm tít tắp vẫn lấp lánh những vì sao như những con mắt đắm đuối và bất lực, tự dưng ông thấy trong lòng bồn chồn. Ngày mai, ngày mốt sẽ ra sao? Quân cộng sản đang rập rình ngoài Nha Trang, Ninh Thuận… Rồi chiến trận lại nổ ra ác liệt! Nhất định rồi, quân cộng sản đang trên đà thắng lợi, thế của chúng đang rất mạnh như chẻ tre. Trong khi đó trong tay ông chỉ có sư đoàn 18 – chiếc “Nỏ Thần”( ) miền Đông đất đỏ. Nhưng liệu “nỏ thần” có làm nên chiến thắng oanh liệt như An Dương Vương? Khó lắm, khó có thể làm nên một kỳ tích lúc này. Nhưng nếu buông lơi thì coi như tự sát. Đời là thế, tướng tá, quân binh cũng sắp đến hồi mãn cuộc. Tướng Đảo bỗng quay lại, hào phóng bảo những người cùng đi:
-Ô kìa, vô, vô đi, để ông Hiếu chờ…
Không biết đại tá chiến đoàn trưởng xoay xở cách gì mà trong chớp mắt, một bàn tiệc dài đã dọn xong, toàn những món ăn sang trọng chỉ có ở Sài Gòn, hay đúng hơn chỉ ở trong Chợ Lớn mới có. Càng đặc biệt hơn nữa, một dàn các cô gái tiếp tân trong quân phục: áo rằn ri để cổ trễ xuống ngang bầu vú, mi-ni jube bó chật căng mông, ngắn tới háng, ào ra… Lê Minh Đảo lắc đầu nói với đại tá Mai:
-Thằng Hiếu này ghê thiệt!
Đại tá cười bằng miệng, không ra tiếng:
-Thôi kệ tụi nó mà anh Hai! Biết đâu sống chết mà lường. Cho tụi nó vui là được rồi…
Chuẩn tướng không nói gì, không rõ thái độ phản ứng của ông về câu giải thich của tư lệnh phó. Tướng Hiếu vỗ tay ba cái:
-Xin quý vị im lặng cho tôi có dăm câu ba điều với anh em. Giờ nầy khuya rồi, nhưng lính trận chúng ta thì kể chi giờ giấc. Nhân có anh Hai tư lệnh sư đoàn xuống thị sát mặt trận, tôi mời ảnh ở lại ăn khuya. Thật diễm phúc cho chiến đoàn, được tư lịnh đồng ý cùng ở lại chia ngọt xẻ bùi với chúng ta. Mời anh em nâng ly để ngày mai uýnh nhau với quân cộng sản giành chiến thắng, có phải không anh Hai? Đó, anh Hai tư lịnh đồng ý rồi kìa! Nào xin mời…
Tất cả nâng những cái ly sóng sánh của mình lênn ngang mày rồi dốc rượu vào cổ. Đại tá Hiếu uống cạn ly của mình thì nắm cánh tay một cô chiêu đãi viên, nói to:
-Đây là em Lệ Hằng, ca sĩ phòng trà Maxime, tôi mới tuyển vô chiến đoàn. Lệ Hằng, cô đến ngồi cạnh chuẩn tướng, đặng phục vụ…
Chuẩn tướng đang định từ chối thì viên sĩ quan truyền tin chạy vào nói nhỏ bên tai:
-Trình chuẩn tướng, có điện thoại từ Sài Gòn!
Lê Minh Đảo đứng dậy, hỏi nhỏ:
-Ai vậy? Bích Liêng hả?
-Dạ, không phải bà nhà. Điện của ông tướng Kỳ!
-Ông Nguyễn Cao Kỳ?
-Dạ đúng!
Tướng Đảo cầm máy, nghĩ nhanh “Ông tướng râu kẽm gọi mình có chuyện gì vậy nhỉ? Đảo vừa “A lô“ thì đầu dây đằng kia đã có tiếng cười lớn:
-Kỳ đây! Anh Đảo hả? Đang ở Bộ tư lệnh à?
-Thưa phải ạ! Thiếu tướng gọi tôi có việc gì khuya khoắt vậy?
-Không có chuyện gì lớn cả. Nhớ toa thì gọi chơi vậy thôi! Này có rảnh không về đây nói chuyện dóc chơi…
Tướng Đảo ngập ngừng:
-Dạ, trình thiếu tướng, tôi đang ở trong tình trạng cấm trại.
Tiếng ông Kỳ vẫn thản nhiên:
-Biết rồi! Để cho thằng phó của toa nó giữ trại, về đây đi. Có mấy nhân vật ngưỡng mộ toa lắm. Toàn cỡ bự không! Họ rất muốn gặp toa. Moa nói thằng Đảo nó đang cầm sư 18 ở Long Khánh, không về được. Nhưng họ không tin, bắt moa gọi toa cho bằng được. Thôi, nể mặt moa, toa về đây đi…
Lê Minh Đảo thấy thật khó xử. Ông Kỳ này thật ra chỉ là tay võ biền, hết thời, nhưng lại là người quảng giao. Xưa giờ ít khi ổng chịu nói chuyện với mình, coi như đám trẻ nhỏ. Thỉnh thoảng có gặp nhau, chào nhau chuyện trò dăm câu ba điều, chưa thấy ổng xưng “moa”, “toa” với mình. Nay ổng kêu bằng tiếng Pháp vậy, chứng tỏ ổng đang cần mình. Lại thêm có các nhân vật tai to mặt lớn… Biết đâu, đây chẳng là cơ hội để mình tiếp xúc, mở rộng mối quan hệ? Nghĩ vây, Lê Minh Đảo hỏi:
-Vậy, gặp thiếu tướng ở đâu?
-Ở nhà moa chứ còn ở đâu nữa. Vậy là OK?
-Dạ được! Xin thiếu tướng đợi cho chừng nửa giờ…
Tiếng Nguyễn Cao Kỳ vẫn rổn rảng:
-Tốt lắm! Nỏ thần phải vậy chớ! Ngưng một lát như chợt nhớ ra, tướng Kỳ nói thêm. À, mà này, Đảo!
-Còn chi nữa, thưa thiếu tướng?
-Toa đừng bay bằng trực thăng của toa. Để moa lên rước toa!
-Sao vậy? Tôi tự lái trực thăng được mà! Thiếu tướng chưa biết tôi đã có một ngàn giờ bay à?
Tiếng Kỳ khà khà:
-Biết! Nhưng toa bay về không có chỗ đậu. Hơn nữa, thấy trực thăng của toa tụi an ninh nó để ý. Cứ để moa tự lái máy bay của moa lên rước toa. Chuẩn bị đi, hả!
Chuẩn tướng tư lệnh trao máy cho viên sĩ quan truyền tin, quay lại bàn tiệc, những cặp mắt đăm chiêu, có cả nnững cái miệng há hốc đang nhìn ông. Lê Minh Đảo nâng ly rượu lên ngang mày, giọng trầm hẳn xuống:
-Tôi thật sự cảm động về tinh thần của anh em. Vừa rồi tôi đã nói ở ngoài trận tiền rồi, anh em chắc hiểu lòng dạ Đảo này. Chúng ta thề một lòng bảo vệ từng tấc đất của Việt Nam cộng hòa cho dân, cho nước, cho tổng thống, không để lọt vào tay cộng sản Bắc Việt. Thưa anh em, đáng lẽ tôi ở lại chung vui với anh em tới sáng. Chúng ta cùng thức thâu đêm, ôm cây đàn, hát vang bài ca chiến thắng chờ quân địch. Nhưng… tôi vừa có điện của Sài Gòn gọi về gấp. Bí mật nhà binh chưa thể nói để anh em cùng biết. Cho nên, tôi xin cạn ly này, cáo lỗi cùng anh em. Hẹn ngày chiến thắng, chúng ta sẽ lại nâng ly ca khúc khải hoàn… Nào, tôi uống đây!
Chuẩn tướng lộ vẻ cảm động ra ánh mắt, khiến những sĩ quan có mặt trong phòng tia nhìn cũng long lanh, dành cho vị tư lệnh của mình uống từ từ, màu rượu vàng sóng sánh cạn dần, cạn dần…
Chuẩn tướng đưa cái ly cho cô gái:
-Cô em đưa cái ly này cho đại tá chiến đoàn trưởng, nói cho Đảo này gửi lại đại tá, hẹn sẽ có ngày dùng tới. Rồi chuẩn tướng đứng dậy, đưa tay vẫy chào. Tất cả những người có mặt trong phòng tiệc đều đứng lên, đưa tay trên vành mũ chào nghiêm trang. Chuẩn tướng mỉm cười thầm nghĩ: toàn là nón sắt, đúng là bữa tiệc đầy chất sắt thép, súng gươm. Tư lệnh đi ra cửa cùng hai sĩ quan cận vệ, thấy đại tá Mai, tư lệnh phó đứng dậy theo, ông ngăn lại:
-Đại tá cứ ở lại với anh em. Đừng để anh em mất vui dễ hoang mang. À, tôi có việc này, báo để đại tá biết: nếu quân đoàn có lịnh gì gấp, đại tá báo cho tôi ở số điện này. Chỉ thật gấp thôi nhé, còn lại là bí mật nhà binh. Mọi chuyện trong sư đoàn, nhờ cậy ở đại tá…
-Xin tuân lệnh chuẩn tướng! Đại tá Mai dập gót giày.

***

Chuẩn tướng vừa về đến Bộ tư lệnh đã nghe có tiếng trực thăng nổ trên đầu. Ông vào phòng, lật gối lấy khẩu Browning báng ngà nhét vào túi áo, quay ra nói với anh lính hầu:
-Út à! Ai hỏi nói tao đang đi thị sát nghen!
Rồi ông bước sang phòng tác chiến. Mọi người đang xô ra cửa, ngước nhìn lên ánh đèn pha loang loáng của máy bay trực thăng. Trông thấy chuẩn tướng, một viên trung tá đứng nghiêm:
-Thưa chuẩn tướng, xin phép được hỏi: trực thăng của đơn vị nào đang lượn trên không phận sư đoàn? Xin phép cho phòng không làm nhiệm vụ?
Chuẩn tướng xua tay:
-Trực thăng của quân đoàn đến rước tôi. Anh em cứ yên tâm…
Ông đứng chờ cho chiếc trực thăng tiếp đất, giảm độ gió của cánh quạt rồi lao ra. Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ đẩy cánh cửa cho Lê Minh Đảo leo lên, ngồi bên cạnh chếch về phía sau. Cánh cửa vừa khép lại chiếc máy bay tăng vận tốc máy, từ từ nhấc bổng mình vào bầu trời đen thẳm. Thiếu tướng vươn tay đưa cho Đảo bộ cáp nghe. Lê Minh Đảo vừa đeo vào, đã nghe tiếng thiếu tướng:
-Tình hình trên này êm chứ?
-Hiện thời đang yên ắng, nhưng giống như trước cơn giông, không khí nặng nề đặc quánh lại… Cộng sản đang chuyển quân về Long Khánh…
Nguyễn Cao Kỳ với tay tắt bớt ngọn đèn, trong bóng tối lờ nhờ, Lê Minh Đảo nhận ra ông tướng, nguyên thủ tướng rồi phó tổng thống, cựu tư lệnh không quân đang mặc đồ thể thao, quần soọc, áo thun trắng.
-Trời Sài Gòn lúc này nóng lắm hả thiếu tướng…
-Nếu toa muốn nói về nghĩa đen thì Sài Gòn đang rất nóng. Toa không thấy moa phải bận đồ thế này sao. Còn nói theo nghĩa bóng thì Sài Gòn không chỉ nóng, mà còn sắp bốc cháy…
Lê Minh Đảo định hỏi thêm vài câu nữa về tình hình chính trị, nhưng nhớ ra mạng cáp nghe phát trên làn sóng rađio, rất có thể bị nghe lén nên chỉ hỏi chuyện riêng tư:
-Thiếu tướng lúc này khỏe không? Trang trại ngoài Khánh Dương vẫn còn chớ?
Nguyễn Cao Kỳ cười to:
-Đổi cho ông bạn Mỹ, lấy cái này này! Ông thiếu tướng râu kẽm vừa cười khùng khục, lấy ngón tay chỉ xuống ghế đang ngồi. (Lê Minh Đảo hiểu là cái máy bay trực thăng đang bay, hóa ra tướng quân cũng nhanh tay lẹ mắt thiệt tình!). Cũng may hồi đó Mẽo nó mua, chớ để đến giờ chắc thương lượng với cộng sản quá…
Chuẩn tướng cũng cười, lây cái cười của ông thiếu tướng, vốn được mệnh danh là “cow-boy” nhất quân lực:
-Biết đâu, thương lượng được với cộng sản, họ chẳng xếp để thiếu tướng một ghế, tỉ dụ như phó thủ tướng!…
-Chuẩn tướng không định rời bỏ lập trường đấy chớ? Mà thôi, không nói chuyện này ở trên trời nữa. Bà xã của chuẩn tướng có khỏe không? Nghe đồn chuẩn tướng có gần một chục tiểu thơ phải không?
Lê Minh Đảo cười nhẹ:
-Đồn gì nữa, chính xác là chín đứa!
-Một bà?
-Trình thiếu tướng, em út nhát gan đâu được như thiếu tướng…
Nhưng ông thiếu tướng làm như không nghe thấy câu nói của chuẩn tướng, ông nheo mắt lặng lẽ điều khiển máy bay.
Chuẩn tướng Lê Minh Đảo cũng không hỏi thêm nữa, ông đưa mắt quan sát phía dưới cánh máy bay. Khoảng cách con đường từ Long Khánh về Sài Gòn quen thuộc dưới tầm nhìn của ông. Mặc dù đang là ban đêm, nhưng chuẩn tướng vẫn nhận rõ từng vị trí, những điểm chốt chặn của quân lực. Thỉnh thoảng ở những vị trí ấy lại vọt lên những quả hỏa châu nhiều màu, nhìn vui mắt. Có thể một anh chàng chỉ huy nào hứng chí, ra lệnh bắn chơi. Thói quen thừa đạn và vô trách nhiệm! Sân bay Biên Hòa lấp lóa dưới một quầng sáng màu vàng quạch, chiếu loang lổ một đường băng chạy dài tít tắp. Đảo nhận ra những lỗ đạn đại bác của quân cộng sản vẫn chưa được san lấp, đen ngòm lốm đốm một vùng đường băng. Có tin một bộ phận của sư đoàn không quân đã chuyển về Cần Thơ để bảo toàn lực lượng.
Bỗng ở một quầng tối có một luồng đạn vạch lửa nhắm về phía máy bay của tướng Kỳ, nhưng cuối tầm. Ông tướng không quân về vườn cười nhạt:
-Non nước mẹ gì mà bắn hả các cha! Đảo này, toa thấy quân cộng sản cài răng lược với quân đoàn Ba của ông Toàn rồi chứ?
-Dạ, thưa thiếu tướng, cả tướng Toàn và tướng Viên cũng được báo cáo rồi. Tướng Toàn đang ở Long Khánh…
-Thằng chả lại mò ra ngoài ấy, chắc không phải để thị sát sư đoàn của toa chứ?
-Tướng Toàn ở biệt thự của ổng bên kia dinh đại tá Phúc, gần bênh viện quân dân y Long Khánh…
-Cầu trời cho ông ta ngủ ngon đêm nay.
Lê Minh Đảo không hiểu đó là câu nói đùa hay nói thiệt của tướng Kỳ, chỉ thấy ông im lặng điều chỉnh cho chiếc trực thăng chúi đầu xuống là là bay rồi bất ngờ vút lên cao, như con chim cú ăn đêm, lấy đà đáp nhẹ nhàng xuống sân nhà. Đảo thầm phục tài lái máy bay của ông thiếu tướng.
Kỳ nắm tay Đảo bước vào giữa nhà. Căn phòng sáng choang, khiến chuẩn tướng hơi bị chói mắt. Trên bàn là một tiệc rượu kiểu buffet, gọn nhẹ. Tất cả có ba người đang ngồi im lặng, họ đang nhấm nháp wishky, khói thuốc bay mù mịt. Nguyễn Cao Ky nắm tay tư lệnh sư đoàn 18 vào ngồi cạnh mình. Chuẩn tướng hơi hoang mang, ngoài tướng Trần Văn Đôn, ông tướng già hết thời ra, có hai nhân vật dân sự mà Đảo chưa biết mặt. Dường như đọc được ý nghĩ của ông tướng sư đoàn, Nguyễn Cao Kỳ chậm rãi:
-Anh Đảo này, anh Đôn, cựu tổng trưởng biết rồi nhỉ? Còn đây – ông chỉ vào người đàn ông trạc năm mươi, ăn vận civin mùa hè, đeo kính mát, đen kịt – Cha Thanh, linh mục dòng sáng cứu thế…
-Dạ, chào Cha! Chuẩn tướng lạnh lùng.
-Tình hình sư đoàn của anh thế nào, Đảo? Trần Văn Đôn cất tiếng ồm ồm.
Tự dưng chuẩn tướng thấy khó chịu, hình như họ muốn đem mình để thí nghiệm một cái gì đó. Mấy tay dân sự, cha cố thì vốn lợi dụng máu xương của binh lính để củng cố địa vị của mình. Còn những ông tướng hết thời thì đang cố làm ra vẻ. Lâu nay, Lê Minh Đảo được nghe loáng thoáng những câu chuyện của “các anh lớn” xì xào, nửa kín, nửa hở, nửa đùa nửa thật. Nay thì đã thấy… Nhưng không lẽ, một con người như thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, một người đã làm đến thủ tướng, rồi phó tổng thống, gia tài kếch xù, vợ đẹp con khôn mà cũng a dua với những người này? Nghe Trần Văn Đôn hỏi một cách trịch thượng như thế, chuẩn tướng thấy thất vọng. Ông cúi xuống ngắm bộ đồ trận của mình, vô tình thọc tay vào túi đụng ngay khẩu Browning. Trong bầu không khí bóng lộn đầy chất salon, bộ đồ trận đầy bụi đỏ chiến trường của chuẩn tướng khiến ông thấy có vẻ lạc lõng. Ông quay sang hỏi tướng Kỳ, một câu hỏi nhã nhặn, nhưng kiên quyết, để cho ông Đôn và ông cha cố cùng nghe:
-Anh Kỳ à, anh kêu tôi vô đây không nhẽ chỉ để hạch hỏi về sư đoàn của tôi hay sao?
Kỳ cười lớn, nhưng tiếng cười nghe khùng khục như cố nén:
-Toa yên tâm! Sắp có chuyện rồi đây!
Tứơng Kỳ đưa mắt cho viên sĩ quan hộ vệ, anh ta quay ra, khép cửa, rồi biến vào bóng tối. Bây giờ Nguyễn Cao Kỳ mới đứng dậy, giọng phấn khích:
-Thưa quý vị, thưa anh em! Đất nước đang trên bờ vực thẳm! Anh em đều đã biết. Hôm nay, tôi, thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, nguyên thủ tướng, nhân danh Chủ tịch ủy ban cứu nguy dân tộc tập hợp mấy anh em đặc biệt thân tín, tâm huyết với vận mệnh dân nước. Để làm gì? Để kêu gọi và bàn cách thành lập ngay một chính phủ mới, chính phủ đoàn kết, thống nhất trong toàn quốc. Chính phủ này phải là chính phủ mạnh, chỉ bao gồm những người tâm huyết chống cộng sản. Dù thế nào đi nữa, cũng phải đương đầu kiên quyết không thể đầu hàng cộng sản một cách vô lối. Vãn hồi hòa bình bằng gì đi nữa, bằng chiến thắng quân sự hay thương lượng ngoại giao thì ta cũng phải mạnh… Hả?
Thiếu tướng, với thói quen nhà binh chuyên đánh giặc trong… salon, cộng với một cá tính rất “tẩy” của mình, vừa nói vừa nhìn thẳng, thậm chí chỉ tay vào từng khuôn mặt, chỉ đến khi nào người đó chịu gật đầu, ông mới quay sang người khác. Đến lượt Lê Minh Đảo, người ngồi sát bên ông, Nguyễn Cao Kỳ cúi xuống gần sát mặt chuẩn tướng, “hả” một tiếng rất tự tin, gần như áp đặt.
Chuẩn tướng hơi né sang một bên tránh luồng hơi thở nồng nồng mùi hành sống, nhưng không chịu gật đầu tán thưởng. “Lại đảo chánh! Chuẩn tướng thầm nghĩ! Đánh cộng sản thì chần chờ, lúc thắng thì giành nhau phần ngồi trước, khi thất thế thì lùi lại sau bàn “chiến lược”, rút cuộc là bỏ hết tỉnh này sang tỉnh khác! Vậy mà bàn mưu, tính kế để đá nhau thì thật là mau lẹ! Biết tình hình thế này, chuẩn tướng không nhẹ dạ nghe theo theo tướng Kỳ về ngồi đây! Xôi thịt! Mẹ kiếp, xôi thịt quá thể”.
-Hiện nay, do sự thất bại liên tiếp của quân lực Việt Nam cộng hòa chúng ta… Thiếu tướng Kỳ tiếp tục… một cuộc bỏ chạy thê thảm mà nguyên chính là do những quyết định vô cùng sai lầm của người đứng đầu quốc gia và những kẻ đang luẩn quẩn trong dinh Độc Lập. Quân đội Việt Nam cộng hòa không phải là một quân đội tầm thường, điều này đã được đồng minh và bạn bè chúng ta thừa nhận. Vậy mà chỉ một quyết định xuất phát từ cái nhìn thiển cận. Vâng, thiển cận một cách khó hiểu, đã để mất một nửa đất nước, tiêu tan hai quân khu và hai quân đoàn có tiếng là chiến đấu anh dũng… Thưa anh em, thật đau xót! Là một quân nhân, tôi càng đau xót, trước xương máu của anh em binh sĩ đã chảy thấm đẫm mảnh đất từ sông Bến Hải, Quảng trị đến Nha Trang, Phan Thiết… Và còn chảy nữa, còn đổ nữa cho tham vọng của một vài người đang ngồi trên đầu chúng ta…
Thiếu tướng Kỳ ngưng lại như để lấy hơi, nhưng ông linh mục đã tranh thủ cướp lời ông:
-Tôi không phải là một quân nhân, một nhà quân sự, tôi cũng không phải là nhà chánh trị, tôi ghét chánh trị. Tôi chỉ là một con chiên, con chiên yêu nước! Chính vì thế mà tôi thấy cần phải dấn thân. Tôi dấn thân theo ý Chúa, theo lời truyền dạy của Người! Mấy ngày gần đây, theo dõi sự tan rã của quân đội, tôi thấy nguy cơ đất nước lọt vào tay cộng sản ngày càng rõ ràng. Nếu như… nếu như chúng ta, tức ủy ban Cứu nguy dân tộc không ra tay để có một giải pháp…
Trung tướng Trần Văn Đôn nãy giờ vẫn ngồi im, trầm ngâm theo kiểu người Pháp. Khác với các tướng lĩnh trong quân đội, tướng Đôn thấm đẫm nền văn minh và văn hóa Pháp. Nhã nhặn, biết cách điều hòa những mối quan hệ. Chính vì thế, người Mỹ tỏ ra không thích thái độ ấy. Họ cảnh giác và đã kéo theo những chính khách, các tướng lãnh thân Mỹ tỏ ra bất phục ông về phía họ. So với Nguyễn Cao Kỳ, tướng Đôn luôn tỏ ra là bậc đàn anh, không chỉ với địa vị quý tộc của ông, mà ông còn có “cái đầu” cao hơn hẳn ông tướng lái máy bay bà già này. Thế nhưng, hôm nay tướng Đôn “vui lòng đến tệ xá” của tướng Kỳ vì một lý do hết sức trọng đại. Đó là vận mệnh của đất nước. Khi nghe ông linh mục nói những điều chung chung, dễ dãi, trung tướng Đôn, ngồi thẳng người dậy, đập đập cái bót thuốc lá vào gạt tàn, không nhìn ai:
-Những điều này báo chí đã nói hà rầm mấy bữa nay rồi. Tôi muốn ông linh mục cho biết bên công giáo các ông có được những hậu thuẫn nào?
Ông linh mục tỏ ra không hiểu:
-Thưa trung tướng, ông muốn hỏi về sự hậu thuẫn nào?
-Xưa nay công giáo vốn được người Mỹ, đặc biệt là CIA đi bên cạnh, phải không thưa Cha?
Linh mục lúng túng:
-Trong lúc nước sôi lửa bỏng này mà trung tướng vẫn chưa quên được tính hài hước của mình? CIA có công việc của họ, còn chúng tôi làm theo ý nguyện của Đấng tối cao…
Tướng Đôn lại dựa lưng vào thành ghế bành:
-Kỳ này, anh nói toạc móng heo ra đi! Nhiệm vụ của ủy ban cứu nguy dân tộc thực chất là một ủy ban quân sự. Lúc này chỉ có quân sự mới làm cho tổng thống của chúng ta tỉnh ngộ. Mấy quả bom ném vào Dinh tổng thống chưa thể làm cho ông ta thôi tham vọng đâu. Thưa Cha, tướng Đôn quay sang nhìn thẳng vào khuôn mặt thanh khiết của ông linh mục, việc quân sự không khó lắm đối với các tướng lĩnh của chúng ta. Có lẽ Cha biết nhiệm vụ của mình trong ủy ban rồi chớ?
Nguyễn Cao Kỳ lại hích vào sườn Lê Minh Đảo:
-Anh Đôn nói rất phải. Tuy nhiên, chúng ta cần biết rõ thái độ của người Mỹ. Hiện nay người Mỹ tỏ thái độ rất tiêu cực đối với cục diện ở Việt Nam. Gần như họ bỏ mặc cho người Việt Nam chúng ta muốn làm gì thì làm. Không có viện trợ, mà cũng chẳng có B52… Thế nhưng chúng ta cần làm cho họ tích cực lên. Muốn thế phải có trận đánh lớn và chiến thắng lớn. Mà muốn có trận đánh lớn, muốn có chiến thắng lớn thì phải có chỉ huy giỏi. Nếu người Mỹ thực sự họ muốn để yên cho chúng ta… thì chúng ta sẽ có được những vị tướng giỏi, chỉ huy tài ba. Mà, một trong những vị tướng rất trẻ trung, hăng hái đang ở vị trí tiền đồn là người bạn của chúng ta đây…
Ông linh mục hầu như không chú ý đến những lời giới thiệu nồng nhiệt của tướng Kỳ dành cho Lê Minh Đảo, ông đang cúi xuống mặt bàn, vẻ suy nghĩ rất lung. Chờ cho mọi sự im lặng đến độ, linh mục nhỏ nhẹ bằng giọng Bắc rất êm ái :
-Thông qua Đức Hồng y, tôi được biết, CIA đang muốn thay ông Thiệu bằng một người khác, nhưng có sự cản trở từ phía tòa đại sứ Hoa Kỳ. Thật ra, ngài đại sứ không phải lo sợ gì ông Thiệu, mà cái chính là ông ta lo sẽ không biết trám ai vô đó? Giới civin thì tỏ ra nhút nhát, giới quân sự thì cũng nhút nhát, nhưng lại nhút nhát theo kiểu khác.
-Kiểu khác là kiểu nào hả Cha? Tướng Kỳ xen vào.
-Thiếu tướng còn lạ gì nữa? Bài học tướng trẻ năm 1966 còn đó. Khi đó ai đẩy thiếu tướng vào ghế thủ tướng. Hay lần này, thiếu tướng ngồi vào Phủ đầu rồng một phen?
Nguyễn Cao Kỳ cười khùng khục:
-Tôi không muốn làm tổng thống mà chỉ muốn nắm quân đội. Đánh! Đánh cho thiệt mạnh, để cho Hoa Kỳ sáng mắt ra…
Chuẩn tướng thấy khó chịu, nhất là trong bầu không khí này. Nó vừa mơ hồ, lại vừa giữ ý lẫn nhau. Ai cũng có cái giọng khụng khiệng muốn làm người kín đáo, thâm thúy. Chuẩn tướng nói nhỏ vào tai chủ nhà:
-Anh Kỳ, cho tôi ra ngoài một chút!
Ông tướng cao-bồi nhìn Lê Minh Đảo ngạc nhiên:
-Có chuyện gì thế?
-Ở đây ngộp thở quá…
-Này, Đảo phát biểu ý kiến của mình để mọi người cùng nghe coi.
-Tôi biết gì mà nói?
-Tinh thần binh lính này, trang bị võ khí này, khả năng chỉ huy chiến đấu của các cấp sĩ quan này…
Lê Minh Đảo mỉm cười vì một loạt những cái “này… này…” của ông tướng gốc Bắc. Kỳ thấy thế lại nghĩ Đảo tán thành, bèn giới thiệu:
-Tôi đã ra tận Xuân Lộc mời được chuẩn tướng tư lệnh sư đoàn bộ binh 18 về đây để lượng giá chiến trường cho chúng ta nghe. Đảo này, toa nói đi… Chuẩn tướng ngần ngừ, phút chốc, cái máu nghệ sĩ của ông tan biến, ông nói gằn giọng, làm như trước mặt ông là những tên cộng sản lì lợm:
-Thưa quý anh, tôi hả? Úynh! Úynh chết bỏ! Cứ có đủ súng đạn, trực thăng cho chúng tôi, ai làm tổng thống cũng được, miễn là đánh cộng sản!…
Nói xong những câu này, chuẩn tướng đứng dậy, với tác phong oai dũng của một quân nhân, thản nhiên bước ra khỏi phòng.
Thấy thái độ của Đảo hơi ngang ngạnh, thiếu tướng Kỳ bước theo sau. Ra đến hành lang, chuẩn tướng quay lại nói với thiếu tướng bằng một giọng thân mật hơn:
-Anh vô nói chuyện với họ, để tôi ngoài này một mình cho thoáng…
-Toa cảm thấy khó chịu phải không? Moa hiểu mà, cánh quân sự thứ thiệt tụi mình khó hòa đồng với cánh civin sa lông. Nhưng tình hình hiện nay tạm phải liên minh với họ. Nghĩ ngợi một lát, thiếu tướng nói thẳng. Đảo này, tụi mình đảo chánh, lật tay Thiệu, Đảo ủng hộ không?
Lê Minh Đảo ngần ngừ:
-Một mình tôi thì ăn nhằm gì mà thiếu tướng tin vậy?
-Lực lượng quân lực lúc này tan nát hết rồi, chỉ còn trông vào quân đoàn Ba, mà trong đó Thiệu và Quang nắm chặt sư 25 của thằng Bá. Có chuyện gì chắc chắn thằng Bá sẽ kéo về Sài Gòn, mà đường thì gần hơn Xuân Lộc của Đảo. Nhưng phía ấy lực lượng mỏng hơn hướng đông, quân của Lý Tòng Bá làm sao sánh với “Nỏ Thần” của Đảo? Nếu có chuyện xảy ra, chỉ cần Đảo án binh sư đoàn, với lý do ngăn chặn cộng sản. Mặc kệ thằng Toàn hò hét. Còn lại để trong này tụi mình xử lý…
-Anh đã nghĩ kỹ chưa? Nếu lúc này mà đảo chánh quân sự, là phơi lưng cho cộng sản… Đảo dè dặt.
-Moa đã tính rồi, sẽ êm thôi. Theo linh mục Thanh thì CIA cũng ngán Thiệu lắm rồi. Thế này nhé, không quân vẫn còn trong tay tôi, bộ binh Đảo nắm. Chắc chắn sẽ diễn ra nhanh gọn, cộng sản không kịp hành động đâu…
-Tùy các anh! Đảo cười buồn.
-Tôi còn e tướng Toàn, nó là tay chân của Thiệu…
-Anh đừng lo, xưa nay quân đoàn có làm gì đâu! Mọi chuyện trong sư đoàn, nhất là tác chiến, sư đoàn tự chủ cả…
-Thế thì tốt rồi. Đảo ở đây nhé, tôi vô trong ấy bàn thêm chi tiết.
Còn lại một mình, chuẩn tướng thấy cô đơn. Trước mặt ông là quầng sáng vàng đục của sân bay. Sao lúc này im lặng quá, không thấy có tiếng phi cơ. Súng cũng im. Thỉnh thoảng gió hè lùa đến, mang theo tiếng xe cộ, tiếng ồn ào ngoài phố. Và cả tiếng ve… Tiếng ve chứa một giai điệu rộn ràng, khiến chuẩn tướng nhớ tới cây đàn của mình…
Bỗng có mùi nước hoa thơm dịu từ đâu đưa tới. Mùi nước hoa đậm dần và có tiếng bước chân nhè nhẹ. Rồi một tiếng đàn bà ngọt lịm từ phía sau cất tiếng hỏi nhằm vào chuẩn tướng:
-Anh là Lê Minh Đảo phải không?
Chuẩn tướng quay lại, dù chưa gặp mặt, nhưng ông biết đây là phu nhân của tướng Kỳ. Đảo hơi cúi mình:
-Dạ phải! Thưa bà thiếu tướng!
Bà thiếu tướng cười giòn, đến sát bên chuẩn tướng:
-Tôi là Tuyết Mai! Anh có thể gọi tên tôi, nếu thích. Còn nếu để lịch sự với người ta, anh cứ kêu tôi bằng chị cho thân mật.
-Dạ thưa chị! Hân hạnh…
Tuyết Mai còn rất trẻ, nguyên là tiếp viên hàng không. Không biết Tuyết Mai là người vợ thứ mấy của ông Kỳ? Nghe đâu hồi cặp bồ với Tuyết Mai, tướng Kỳ thường cho máy bay lượn sát nóc nhà cô, khiến ông bà già vốn không ưa tướng Kỳ vì những tai tiếng đồn đại khắp Sài Gòn, cũng phải gật đầu “cho xong chuyện”.
-Anh là quân nhân mà lịch sự quá, ga lăng quá, chả bù cho ông Kỳ. Tôi tưởng anh Kỳ đem máy bay ra Long Khánh đón anh vô nhảy đầm ở Maxime chớ?
Trong bóng tối lờ mờ của ánh đèn hành lang, chuẩn tướng đỏ mặt:
-Chị cứ nghĩ oan cho chúng tôi! Thiếu tướng ra ngoài ấy trong khi tôi còn đang thị sát tiền tiêu. Vả lại, tôi đâu có được đào hoa như thiếu tướng!
Tuyết Mai cười giòn tan, làm chuẩn tướng liên tưởng đến những cục nước đá lanh canh trong ly pha lê mùa hè:
-Anh mà không đào hoa? Người ta đồn rằng, trong hàng ngũ tướng trẻ của quân lực, chỉ có Lê Minh Đảo là tài hoa nhất. Đánh trận giỏi, lại rất nghệ sĩ, đàn giỏi, ca hay… Đúng không nào?
-Dạ, thưa chị, tôi cũng có biết chút chút…
Đột nhiên, Tuyết Mai rùng mình:
-Ngoài này nóng quá, mời anh vô phòng khách ta nói chuyện…
Rồi bà thiếu tướng quay ngoắt vào trong. Chuẩn tướng, cảm thấy cái nóng đầu mùa hạ đang râm ran, ông nghĩ đến tiếng rè rè êm ái của căn phòng lạnh. Khi cúi nhìn bộ đồ trận của mình có vẻ hoang dã đầy bụi, nên Lê Minh Đảo hơi chần chừ. Nhưng Tuyết Mai đã quay lại, nắm cổ tay chuẩn tướng:
-Vô đi! Mặc kệ mấy lão già lẩm cẩm bên bển. Ngồi xuống đi. Anh uống chút gì nhé?
-Dạ, thưa chị, bộ đồ tôi mang có vẻ không hợp với căn phòng!
Tuyết Mai lại cười khanh khách:
-Lúc này bộ đồ nhà binh có gắn sao cấp tướng của anh thế kia là nỗi thèm khát của nhiều sa lông lắm đấy! Anh mang vinh hạnh đến cho gia đình tôi… Nói rồi, bà thiếu tướng đến bên tủ rượu.
Chuẩn tướng lăng lẽ ngắm tấm lưng ong tròn lẳn và cặp mông nhô cao dưới làn tơ lụa của Tuyết Mai, chạnh nghĩ đến Bích Liêng. Bất ngờ Tuyết Mai quay lại, cười mỉm:
-Tôi thấy anh có số đào hoa thế mà nghe anh Kỳ nói, anh cũng là ông tướng có tiếng là chung thủy?
Chuẩn tướng cười gượng:
-Thế chị còn nghe người ta đồn về tôi những gì nữa?
-Thì tôi là đàn bà, chỉ biết nghe những chuyện đại khái vậy thôi.
Chuẩn tướng nhếch mép, cái nhếch mép điệu đàng khiến nhiều người mê hồn, mà cũng lắm kẻ khó chịu. Hai chân bắt chéo lên nhau, chuẩn tướng ngả mình trên lưng ghế:
-Nhưng mà hình như bọn lính tráng nó nói cũng có cái đúng đấy!
Tuyết Mai đặt cốc rượu pha trước mặt chuẩn tướng:
-Chị ấy nhà anh giỏi lắm phải không? À mà hỏi thế cũng bằng thừa, không giỏi làm sao giữ được chân ông tướng trẻ…
-Nhà tôi buôn bán. Chúng tôi lấy nhau từ khi còn đi học. Năm ấy tôi đang học võ bị Đà Lạt…
-Hai người được mấy cháu rồi?
-Dạ, thưa… được cả thảy… chín đứa!
-Trời đất quỷ thần thiên địa ơi! Tuyết Mai cười chảy cả nước mắt. Thế thì ông tướng trẻ còn gì mà đi ra ngoài nữa! Hèn nào…
Bỗng nhiên bà thiếu tướng tắt hẳn tiếng cười một cách đột ngột:
-Này, anh Đảo! Tình hình hiện nay tôi nghe có vẻ bất lợi cho Việt Nam cộng hòa lắm rồi. Vạn nhất có chuyện gì xảy ra, chắc anh chị đã có kế hoạch rồi chớ?
Chuẩn tướng nhắp một ngụm rượu, trầm ngâm:
-Theo tôi thì cũng chưa đến nỗi nào. Nhưng… Bích Liêng, vợ tôi cổ cũng nghe người ta đồn nên lo lắng dữ lắm… Cổ nói nên qua Pháp, ở bển ba má vợ tôi cũng có công ty… Tôi biểu làm gì mà lo cuống lên vậy, tình hình tới đâu, mình tính tới đó.
-Lo chớ sao không? Cộng sản họ vô Sài Gòn là tiêu tán hết. Anh chị nên cho các cháu ra nước ngoài trước đi kẻo nước tới chân e trễ hết ráo! Mấy ông còn mạnh, chớ bọn đàn bà, con nít tụi tôi, chân yếu tay mềm, cứ lo trước. Anh nên cho chị ấy và các cháu đi trước đi.
-Đi đâu? Ra nước ngoài đương nhiên mình làm người ăn nhờ ở đậu, mất hết quyền tự chủ. Với lại, con tôi, toàn con gái, qua bển biết làm gì sống. Bất quá làm vợ cho người ta…
Tuyết Mai cảm động:
-Tụi tôi đàn bà con gái, đâu biết chuyện quân sự hay chánh trị. Chung quy chỉ biết quanh quẩn với con cái…
Đột nhiên có tiếng gõ cửa phòng khách, phá tan không khí im lặng. Hai người cùng giật mình. Tuyết mai đứng dậy mở cửa:
-À, Xuân? Có chuyện chi vậy?
-Dạ, thưa bà, có chuẩn tướng Đảo ở đây không ạ?
Lê Minh Đảo đứng dậy:
-Tôi đây! Thiếu tướng kêu tôi?
-Dạ không! Chuẩn tướng có điện thoại…
-Ở đâu? Ai gọi? Chuẩn tướng bỗng trở lại tác phong của một tư lệnh chiến trường.
-Dạ, tôi không biết ai gọi. Máy bên văn phòng thiếu tướng!
Lê Minh Đảo theo viên sĩ quan tùy tùng của Nguyễn Cao Kỳ vào văn phòng, rồi quay lại nhìn. Đại úy Xuân khép cửa quay ra.
-A lô! Ai gọi vậy?
Đầu dây bên kia, tiếng đại tá Mai:
-Chết rồi chuẩn tướng ơi! Trung tướng Toàn đang ở đây!
-Biết rồi! Ông ta có nói gì không?
Tiếng đại tá Mai rất nhỏ:
-Ổng đang “đù cha, đù mẹ” um sùm ngoài kia chuẩn tướng ơi! ổng nói cần gặp chuẩn tướng…
Đảo im lặng một lát rồi nói với Mai:
-Anh đưa máy cho ông ta, tôi đợi!
Một lúc sau, tiếng trung tướng Nguyễn Văn Toàn oang oang trong máy:
-Đù mẹ! Anh đang ở đâu vậy?
-Trình trung tướng, tôi đang ở một nơi rất quan trọng…
-Quan trọng cái con mẹ gì? Trực thăng ông Kỳ vừa ra đây rước anh đi phải không? Lại đang ở Maxime hay Chợ Lớn?
Đảo cười nhẹ:
-Thì ra tình báo của quân đoàn cũng biết rồi hả trung tướng? Có chuyện gì mà đêm hôm trung tướng vất vả quá vậy?
-Về ngay! Anh phải trình diện ngay ở chỗ tôi trong vòng nửa giờ nữa!
-Để sáng mai được không, trung tướng?
-Đù mẹ, đã biểu không có được!
-Có chuyện gì gấp vậy?
-Chuyện chết người. Ê, nói nhỏ nghe nè: trong vòng một giờ nữa “Tông Tông”( ) sẽ thị sát Long Khánh! Đặc biệt, ổng nói sẽ tới sư đoàn của anh? Nghe rõ chưa? Ông Viên vừa kêu tôi! Đù mẹ… Tông tông…
(Nguyễn Văn Toàn là một ông tướng nói tục chửi thề điển hình. Các sĩ quan cấp dưới của ông ta còn đúc kết rằng hầu như lúc nào cũng có hai tiếng “đù mẹ” thường trực ở đầu lưỡi trung tướng. Nói tiếng Việt đã đành, đến như nói tiếng Anh, ông cũng xài “tiếng Đan Mạch” một cách nhuần nhuyễn. Các sĩ quan còn kể rằng, trong một lần tiếp cố vấn Mỹ, họ nói tiếng Anh, ông nghe không kịp, vội ra dấu và làm một tràng:
-Very quickly spearking English! Đù mẹ, more slowly please! (Nói nhanh quá, ĐM, làm ơn nói chậm).
Viên sĩ quan cố vấn quay sang một người bên cạnh nhờ dịch hộ hai tiếng chửi thề kia. Tất nhiên, anh ta chỉ cười).
Tiếng gác máy sau một câu chửi thề quen thuộc.
“Chết cha! Chuẩn tướng thầm nghĩ rồi vội vàng chạy vào phòng họp của thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, ghé sát tai ông ta nói nhỏ. Ông Kỳ “hả” một tiếng rồi cứ thế há miệng nhìn chuẩn tướng Đảo, không nói. Lê Minh Đảo kéo áo Kỳ:
-Ra ngoài này ta nói chuyện. Kỳ gật đầu với trung tướng Đôn và ông linh mục rồi đứng dậy bước ra ngoài. Ông linh mục nhìn ông trung tướng dò hỏi, nhưng ông ta vẫn trầm ngâm theo kiểu người Pháp.
-Thiếu tướng cho trực thăng đưa tôi về Long Khánh ngay bây giờ. Lê Minh Đảo nói nhỏ, giọng dứt khoát.
-Toàn có nói Thiệu ra Long Khánh về việc gì không?
-Hai hôm trước đại tướng Weyand có đến và chỉ đạo lập “Phòng tuyến Phan Thiết – Xuân Lộc – Tây Ninh”. Chắc tổng thống ra cũng vì chuyện đó!
-Rõ rồi! Kỳ nói nhỏ, vẻ đã hiểu. Thôi để thằng Xuân lấy trực thăng đưa toa về nhé! Moa xin lỗi…
-Được! Không sao đâu. Thiếu tướng trở lại với hai ông kia đi.
Hai người bắt tay nhau, Kỳ nói thêm:
-Nhớ điện đàm với moa thường nghe, Đảo!

(Còn nữa)

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.